Văn bản thông tin – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều

Văn bản thông tin – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều

 

1. Văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên

Trong thế giới tự nhiên quanh ta có rất nhiều hiện tượng tác động hoặc có thể tác động đến nhận thức và đời sống con người như lũ lụt, nước biển dâng, cháy rừng, sương mù, bão gió, nhật thực, sao băng,…Trước các hiện tượng ấy, người ta thường có nhu cầu tìm hiểu: Hiện tượng đó là gì? Tại sao có hiện tượng đó? Chúng có lợi hay có hại như thế nào? Cần làm gì để tận dụng lợi ích và khắc phục ảnh hưởng xấu của chúng?…Văn bản tập trung nêu lên và trả lời các câu hỏi ấy bằng những kiến thức có cơ sở khoa học là văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên.

2. Cách trình bày thông tin trong văn bản

Trong văn bản thông tin, nội dung ý tưởng và thông tin có thể được triển khai theo một cách hoặc kết hợp những cách khác nhau như. Thông thường có các cách như: trình bày theo trật tự thời gian, quan hệ nguyên nhân – kết quả, mức độ quan trọng hay phân loại đối tượng, so sánh đối chiếu; trình bày hoàn toàn bằng phương tiện ngôn ngữ hoặc kết hợp với phương tiện phi ngôn ngữ,…

3. Đoạn văn diễn dịch, quy nạp, song song, phối hợp

– Đoạn văn diễn dịch là đoạn văn trình bày vấn đề theo trình tự từ các ý khái quát đến cụ thể. Ở đoạn văn diễn dịch, câu chủ đề đứng đầu đoạn văn, nêu ý khái quát của cả đoạn, các câu còn lại phát triển ý nêu ở câu chủ đề. Ví dụ: Cây cối luôn được ví là “lá phổi xanh”. Lá cây giúp che chắn các thành phần bụi bẩn, độc hại có trong không khí. Nếu không có cây xanh che bụi và các chất ô nhiễm, con người sẽ khó thở và mắc nhiều bệnh mãn tính do không khí ô nhiễm gây ra. (Theo Thu Thủy).

– Đoạn văn quy nạp là đoạn văn trình bày vấn đề theo trình tự từ các ý cụ thể đến ý khái quát. Ở đoạn văn quy nạp, câu chủ đề là câu đứng cuối đoạn, khái quát ý từ những câu đứng trước. Ví dụ: Chính quyền nhân dân ta vững chắc. Quân đội nhân dân ta hùng mạnh. Mặt trận dân tộc rộng rãi. Công nhân, nông dân và tri thức được rèn luyện, thử thách và tiến bộ không ngừng. Nói tóm lại, lực lượng của chúng ta to lớn và ngày càng to lớn. (Hồ Chí Minh).

– Đoạn văn song song là đoạn văn không có câu chủ đề, các câu trong đoạn có quan hệ bình đẳng với nhau và cùng có tác dụng làm rõ ý khái quát nêu ở phần trước hoặc sau đó. Ví dụ: Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. (Hồ Chí Minh). Đoạn văn này gồm những câu có quan hệ bình đẳng với nhau cùng làm rõ ý khái quát nêu ở phần trước: Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

 

 

– Đoạn văn phối hợp là đoạn văn vừa có câu chủ đề ở đầu đoạn, vừa có câu chủ đề ở cuối đoạn, tức là kết hợp cách trình bày ở đoạn văn diễn dịch và đoạn văn quy nạp. Ví dụ, đoạn văn sau có các câu chủ đề đứng ở đầu và cuối đoạn cùng nêu ý khái quát, những câu còn lại làm rõ ý khái quát nêu ở các câu chủ đề: Các con vật trong nhà có xu hướng mang lại một cảm giác bình yên cho trẻ. Một số trẻ nhỏ thường có cảm giác thoải mái khi ở cạnh những con vật nuôi hơn là khi ở bên người khác. Cũng giống như người lớn, trẻ thường thích ở bên những con thú cưng khi chúng cảm thấy buồn, giận dữ hay khó chịu. Thật kì diệu, những con vật nuôi sẽ mang đến sự yên bình trong mọi tình huống và luôn dành cho con người một tình yêu vô điều kiện. (Theo Thùy Dương).

4. Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ là các hình ảnh, số liệu, kí hiệu, biểu đồ,… được dùng phối hợp với phương tiện ngôn ngữ nhằm minh họa, làm rõ những nội dung nhất định được biểu thị bằng cách phương tiện ngôn ngữ. Ví dụ, các bức ảnh trong văn bản Sao băng (Hồng Nhung) và văn bản Lũ lụt là gì? – Nguyên nhân và tác hại (Mơ Kiều), hoặc biểu đồ, số liệu trong văn bản Nước biển dâng: bài toán khó cần giải trong thế kỉ XXI (Lưu Quang Hưng) đều được dùng để minh họa, làm rõ những nội dung được trình bày trong văn bản. Bên cạnh các phương tiện trên đây, trong trò chuyện trực tiếp, người ta còn dùng một số cử chỉ để thể hiện điều muốn nói. Ví dụ, người Việt dùng cử chỉ gật đầu, lắc đầu để biểu thị sự đồng ý hay không đồng ý; xòe bàn tay, giơ ngón tay biểu thị số lượng nhất định. Đó cũng là phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ.

5. Văn bản kiến nghị

Kiến nghị là loại văn bản mà trong đó, người viết từ việc trình bày đầy đủ, rõ ràng về một vấn đề hoặc sự việc nào đó, nêu lên các đề nghị của mình, yêu cầu cá nhân hoặc cơ quan có thẩm quyền xem xét và giải quyết. Người viết kiến nghị là người chứng kiến hoặc có liên quan đến việc kiến nghị.

 

Giải bài tập Văn Học 8 – Cánh Diều

 

 

 

Văn bản thông tin – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều

Văn bản thông tin – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều