Trưa tha hương – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều

Trưa tha hương – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều

Trưa tha hương – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều

 

Trưa tha hương

Có một buổi trưa lung linh nắng làm cho tôi nhớ quê hương vô hạn. Một buổi trưa ở Chúp.

Nguyên hôm đó là một ngày nghỉ. Tôi đạp xe sang thăm Chúp ở bên kìa bờ Cửu Long Giang. Tôi nghỉ chân ở một gia đình người bạn Nam Kỳ. Sau bữa cơm trưa, ai nấy đều sửa soạn đi nghỉ. Bạn tôi ném cho một cái gối lớn để tôi nằm trên một cái ghế tràng kỉ trong phòng khách và sau khi đã khép bớt cửa sổ cho đỡ chói, anh mỉm cười nhìn tôi có ý chúc ngủ ngon, rồi sang phòng bên cạnh.

Trong phòng bấy giờ tối mát. Tôi nằm luồn hai tay dưới gáy, miệng còn ngậm tăm, vẩn vơ đợi giấc ngủ đến. Giờ phút ấy là giờ phút mà người ta thấy tâm hồn thảnh thơi, trống rỗng, không biết nghĩ cái gì. […]

Một cánh cửa sổ bếp còn mở. Ngoài vườn, nắng đẹp vô ngần. Khung cửa sổ đen xanh cắt lên vườn chuối một bức tranh mùa hạ nên thơ. Nắng sưởi trên tàu chuối xanh non, chỗ xanh trong, chỗ láng bóng như mạ bạc, phản chiếu lên trần bếp một thứ ánh sáng rất dịu, xanh mướt và thái bình. Một con chim nào hót lảnh lót trong rừng cao su xa xa… rồi lại im lặng. Mọi vật, dưới nắng, thiu thiu sắp chìm trong một giấc ngủ nặng nề. Thỉnh thoảng có hơi gió nhẹ lay động tàu chuối ngoài cửa sổ làm biến đổi, chập chờn cái màu xanh dịu trên rèm cửa.

Bỗng nhiên, ở bên trái, ngoài hiên rộng, nổi lên tiếng võng đưa. Tiếng dây thừng căng thẳng cọ vào guốc võng kẽo kẹt, nghe buồn nản lạ. Bên ngoài, nắng lung linh. Tiếng võng đưa kẽo kẹt như nạo vào hồn. Tôi nằm không yên, phải nghiêng mình áp má lên gối vì xúc động. Một cảm giác gì rất quen thuộc, rất xưa, xâm chiếm tâm hồn tôi, hình như bao lâu chưa gặp. Rồi một giọng ru em nổi lên – một giọng người Bắc:

Cái cò lặn lội bờ ao

Ăn sung thì chát, ăn đào thì chua… […]

À oi oi… À oi oi…

Tiếng hát ngừng ru. Trong im lặng, nắng như rung rinh vì vang tiếng võng đưa kẽo kẹt.

Tự nhiên tôi nhớ nhà. Phải chăng tôi đã gặp linh hồn của đất nước. Hình như xa lăm, đã lâu rồi, ở mãi tít phương Bắc, trong gia đình tôi cũng có những buổi trưa oi ả với tiếng võng đều đều… Khi cha tôi cầm tờ báo vào buông đê nghỉ trưa, mẹ tôi bảo vú em:

– Ru em ngủ, đừng để nó khóc cho ông nghỉ trưa.

Thế rồi vú em ẵm em tôi lên võng.

Thế rồi tiếng kẽo kẹt nổi lên cùng với tiếng ru em não nề, trong khi mẹ tôi ra sân nốt mấy cái quần áo của người nhà mới giặt. Màu trắng của vải ướt ra ngoài nắng cũng sáng chói lên và hắt vào buồng học của tôi như cái dòng ánh sáng gờn gợn, rung rinh chảy trên mảnh tường xa xôi là bến Chúp này.

Tôi bỗng nhớ nhà như một đứa trẻ. Và ngạc nhiên sao lại nằm ở đây, ở chốn rừng rú này. Thì ra tôi đã phải đi mất hàng ngàn cây số mới nhận thấy ở giữa gia đình người cái hạnh phúc hằng ngày vẫn có ở chính trong gia đình tôi. […]

Tiếng ru đều đều hoà với tiếng võng kẽo kẹt có một cái gì đặc biệt Việt Nam nhất là một buổi trưa ở chốn xa xôi, nghe một câu hát ru của quê hương mình, thấm thía và buồn mang mang quá!

Qua bao thế kỉ, tâm hồn người nhà quê Việt Nam vẫn còn nguyên vẹn trong câu hát ru em. […]

Trưa hôm nay, ôm con người, chắc lòng quê xúc động, người ấy cất tiếng hát ru:

Cò về nuôi cải cùng con

Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng

Cao Bằng xa lắm … anh ơi!

Rồi một lúc lâu, lại tiếp giọng thiết tha, man mác một niềm nhớ tiếc:

Khi đi trúc mới mọc măng

Khi về trúc đã cao bằng ngọn tre …

Tôi bỗng thấy tâm hồn bớt cô đơn hơn một chút. Bởi vì ở chốn xa lạ này, bên vách kia còn có một linh hồn cô đơn hơn, lạnh lùng hơn, nhưng âm thầm, tăm tối hơn, cho nên tha hương hơn nữa…

Có tiếng đứa nhỏ cựa mình khóc. Tức thì tiếng võng kẽo kẹt đưa nhanh hơn, và tiếng ru lại nổi lên vồn vã:

À ơi ơi … À ời ời …

Đầu năm ăn quả thanh yên

Cuối năm ăn bưởi cho nền đèo bòng…

Vì cam cho quýt đèo bòng

Vì em nhan sắc cho lòng anh mê …

Lạ chưa!

Thì ra cô thôn nữ vui vẻ, nhí nhảnh, ưa hát ví vẫn còn sống trong lòng người đánh võng.

Rồi xứ Bắc, với những làng tre xanh trên ruộng lúa, với các cô thôn nữa khăn mỏ quạ, những đêm trăng trai gái hát trống quân, những đêm chèo ngày vào đám, tất cả cuộc sống nhịp nhàng, đơn sơ, đầy thi vị ngoài đồng ruộng, trong thôn xóm, tất cả những cái gì rất đẹp của quê hương đều lần lượt hiện về trong lòng tôi thay vì câu hát…

Thì ra, cho dù có đi quanh thế giới này đi nữa, trong khi Trái Đất mang ta, ta cũng mang trong lòng cả một thế giới

Dù qua không gian, qua thời gian, ta vẫn còn một chút gì riêng biệt của ta. Tiếng nói có trọ trẹ, giọng có pha, nhưng tâm hồn vẫn vậy. […]

 


 

 

Nội dung chính bài Trưa tha hương – Cánh diều

 

Trưa tha hương” thuật lại nỗi nhớ quê hương da diết của một người con lâu ngày rời xa quê hương. Chỉ với những âm thanh quen thuộc, đơn sơ, mộc mạc, đã gợi lại trong trái tim những kỉ niệm xưa cũ không thể nào quên.

 

Bố cục Trưa tha hương

Chia văn bản thành 3 đoạn:

– Đoạn 1: Từ đầu đến “xanh dịu trên rèm cửa”: Tình huống, địa điểm, thời gian của câu chuyện

– Đoạn 2: Tiếp theo đến “nguyên vẹn trong câu hát ru em”: Những âm thanh quen thuộc đưa nhân vật trở về với những kỉ niệm xưa cũ ở quê hương.

– Đoạn 3: Còn lại: Câu hát ru quen thuộc, đầy kí ức về quê hương

 

Tóm tắt Trưa tha hương

Vào một buổi trưa ở Chúp, khi chứng kiến không gian quen thuộc, giản dị, gần gũi và đặc biệt khi được nghe tiếng hát ru của một người giọng Bắc. Nhân vật tôi bỗng nhớ lại những kỉ niệm ngày thơ ấu ở nơi quê nhà. Nhớ lại những dấu ấn thân thuộc mà dù đi tới đâu cũng không thể quên.

 

Tác giả – tác phẩm: Trưa tha hương

I. Tác giả văn bản Trưa tha hương

– Trần Cư tên thật là Trần Ngọc Cư, sinh ngày 3-4-1918 tại Huê Lăng – Thủy Nguyên – Hải Phòng, sinh ra trong một gia đình đông con. Để ông có thể được học hành đàng hoàng cha mẹ đã rất vất vả, cố gắng

– Với bao nỗ lực của bản thân và gia đình, Trần Cư lấy được tấm bằng tú tài triết học phần một (năm 1938). Không muốn là gánh nặng thêm cho người thân, ông quyết định thi vào ngành bưu điện Đông Dương, đi làm lấy tiền phụ giúp gia đình, đồng thời học nốt phần hai. Sau đó ông tập trung viết báo.

– Được bạn bè mách bảo, Trần Cư tìm đến với báo chí. Vào năm 1941, lần đầu tiên trong đời ông có bài đăng trên tờ Tin mới văn chương

– Tiểu thuyết thứ bảy là tờ báo Trần Cư cộng tác lâu dài nhất. Trên tờ báo này, ông chủ yếu đăng các tác phẩm văn học như truyện ngắn, ký, tùy bút. Nhiều người cùng thời giờ vẫn còn nhớ những tác phẩm khá chắc tay của ông như Trưa tha hương (17-7-1943), Trên lái thần (12-1944)…

II. Tìm hiểu tác phẩm Trưa tha hương

1. Thể loại: Tùy bút

2. Xuất xứ: Đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Số 470, 17 Tháng Bảy 1943

3. Phương thức biểu đạt: Tự sự + Miêu tả

4. Tóm tắt: “Trưa tha hương” thuật lại nỗi nhớ quê hương da diết của một người con lâu ngày rời xa quê hương. Chỉ với những âm thanh quen thuộc, đơn sơ, mộc mạc, đã gợi lại trong trái tim những kỉ niệm xưa cũ không thể nào quên.

5. Bố cục:

Chia văn bản thành 3 đoạn:

– Đoạn 1: Từ đầu đến “xanh dịu trên rèm cửa”: Tình huống, địa điểm, thời gian của câu chuyện

– Đoạn 2: Tiếp theo đến “nguyên vẹn trong câu hát ru em”: Những âm thanh quen thuộc đưa nhân vật trở về với những kỉ niệm xưa cũ ở quê hương.

– Đoạn 3: Còn lại: Câu hát ru quen thuộc, đầy kí ức về quê hương

6. Giá trị nội dung:

– Văn bản như lời nhắc nhở, đưa ta trở về với cội nguồn về với quê hương mình, dù có đi đâu làm gì thì vẫn luôn khắc sâu hình bóng quê nhà.

7. Giá trị nghệ thuật:

– Nghệ thuật tả cảnh đặc sắc, bức tranh nông thôn buổi trưa hiện ra chân thực, sinh động.

– Ngôn ngữ giàu chất thơ, thể hiện cảm xúc nhớ thương, da diết.

 


 

 

1. Chuẩn bị

Yêu cầu (trang 63 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2):

– Đọc trước tùy bút Trưa tha hương và tìm hiểu thêm về tác giả Trần Cư

– Tìm hiểu điệu hát ru của miền Bắc

Trả lời:

– Đọc trước tùy bút Trưa tha hương và tìm hiểu thêm về tác giả Trần Cư

Tác giả Trần Cư

+ Trần Cư tên thật là Trần Ngọc Cư, sinh ngày 3-4-1918 tại Huê Lăng – Thủy Nguyên + Hải Phòng, sinh ra trong một gia đình đông con. Để ông có thể được học hành đàng hoàng cha mẹ đã rất vất vả, cố gắng

+ Với bao nỗ lực của bản thân và gia đình, Trần Cư lấy được tấm bằng tú tài triết học phần một (năm 1938). Không muốn là gánh nặng thêm cho người thân, ông quyết định thi vào ngành bưu điện Đông Dương, đi làm lấy tiền phụ giúp gia đình, đồng thời học nốt phần hai. Sau đó ông tập trung viết báo.

+ Được bạn bè mách bảo, Trần Cư tìm đến với báo chí. Vào năm 1941, lần đầu tiên trong đời ông có bài đăng trên tờ Tin mới văn chương

+ Tiểu thuyết thứ bảy là tờ báo Trần Cư cộng tác lâu dài nhất. Trên tờ báo này, ông chủ yếu đăng các tác phẩm văn học như truyện ngắn, ký, tùy bút. Nhiều người cùng thời giờ vẫn còn nhớ những tác phẩm khá chắc tay của ông như Trưa tha hương (17-7-1943), Trên lái thần (12-1944)…

– Tìm hiểu điệu hát ru của miền Bắc

+ Học sinh có thể tham khảo bài viết sau Hát ru người Việt ở Bắc Bộ

2. Đọc hiểu

* Nội dung chính: 

“Trưa tha hương” thuật lại nỗi nhớ quê hương da diết của một người con lâu ngày rời xa quê hương. Chỉ với những âm thanh quen thuộc, đơn sơ, mộc mạc, đã gợi lại trong trái tim những kỉ niệm xưa cũ không thể nào quên.

 

* Trả lời câu hỏi giữa bài: 

Câu 1 (trang 63 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Chú ý tình huống, địa điểm, thời gian của câu chuyện.

Trả lời:

– Thời gian: Một buổi trưa lung linh

– Địa điểm

+ Ở Chúp, bên kia bờ Cửu Long Giang

+ Ở nhà một người bạn Nam Kỳ

– Tình huống: Nhân vật tôi nằm nghỉ trưa ở nhà người bạn, trước không gian trưa vắng lặng và âm thanh tiếng ru quen thuộc.

– Cảnh vật: “Một cách cửa bếp còn mở ….xanh dịu trên rèm cửa”

Câu 2 (trang 64 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Từ “nạo” trong câu: “Tiếng võng đưa kẽo kẹt như nạo vào hồn.” diễn tả được những điều gì

Trả lời:

– Từ “nạo” trong câu: “Tiếng võng đưa kẽo kẹt như nạo vào hồn.” diễn tả âm thanh tiếng võng cọ sát vào tâm hồn tôi, mang đến những cảm giác bồi hồi, da diết.

Câu 3 (trang 65 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Tại sao tiếng hát ru lại khiến nhân vật “tôi” nhớ nhà?

Trả lời:

– Tiếng hát ru nhắc nhân vật “tôi” nhớ đến những kỉ niệm ngày xưa ở ngôi nhà của mình, nhớ thầy, mẹ, vú em.

Câu 4 (trang 65 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Tiếng hát ru đã giúp “tôi” nhận ra điều gì?

Trả lời:

– Tiếng hát ru đã giúp “tôi” nhận ra rằng: “Thì ra tôi phải đi mất hàng ngàn cây số mới nhận thấy ở giữa gia đình người cái hạnh phúc hằng ngày vẫn có ở chính trong gia đình tôi.”

Câu 5 (trang 65 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Chú ý địa điểm và thời gian được nói đến trong câu hát ru.

Trả lời:

– Địa điểm: “nước non Cao Bằng”

– Thời gian: “khi đi trúc mọc măng/ Khi về trúc đã cao bằng ngọn tre”.

Câu 6 (trang 65 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Nhân vật “tôi” thấy hình ảnh gì của quê hương qua tiếng hát ru?

Trả lời:

– Nhân vật “tôi” thấy hình ảnh của quê hương qua tiếng hát ru là: “Những làng tre xanh trên ruộng lúa, với các cô thôn nữ khăn mỏ quạ, những đêm trăng trai gái hát trống quân, những đêm trèo ngày vào đám, tất cả cuộc sống nhịp nhàng, đơn sơ, đầy thi vị ngoài đồng ruộng, trong thôn xóm, tất cả những cái gì rất đẹp của quê hương đều lần lượt hiện về trong lòng tôi vì câu hát”

* Trả lời câu hỏi cuối bài: 

Câu 1 (trang 66 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Bài tùy bút Trưa tha hương viết về chuyện gì? Đề tài và bối cảnh của câu chuyện có gì đặc biệt?

Trả lời:

– Bài tùy bút Trưa tha hương viết về cảm xúc, tâm trạng nhớ nhà của nhân vật “tôi” khi nghe thấy âm thanh tiếng ru của người xứ Bắc. Nhận ra những hạnh phúc giản dị nơi quê nhà mà bấy lâu nay đã quên mất.

– Đề tài và bối cảnh câu chuyện đó rất đặc biệt vì ở chính quê người, ở căn nhà của người khác nhân vật tôi lại bắt gặp được những âm thanh quen thuộc, nhắc nhớ những kỉ niệm xưa cũ.

Câu 2 (trang 66 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Tiếng hát ru đã làm nhân vật “tôi” nhớ đến những gì?

Trả lời:

– “Tự nhiên tôi thấy nhớ nhà”, “tôi bỗng nhớ nhà như một đứa trẻ”

– Nhớ về những kỉ niệm ngày xưa với thầy, mẹ, với vú em

– Nhớ về khung cảnh quen thuộc ở xứ Bắc

Câu 3 (trang 66 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Dẫn ra một số câu, đoạn thể hiện rõ tình cảm xúc động và những suy nghĩ sâu lắng của tác giả khi nghe tiếng hát ru.

Trả lời:

Tôi bỗng nhớ nhà như một đứa trẻ. Và ngạc nhiên sao lại nằm ở đây, ở chốn rừng rú này. Thì ra tôi phải đi mất hàng ngàn cây số mới nhận thấy ở giữa gia đình người cái hạnh phúc hằng ngày vẫn có ở chính trong gia đình tôi.”

Câu 4 (trang 66 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Qua một số câu văn cụ thể trong văn bản, phân tích đặc điểm của tùy bút: ngôn ngữ rất giàu hình ảnh và cảm xúc.

Trả lời:

– Ngôn ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc: Những làng tre xanh trên ruộng lúa, với các cô thôn nữ khăn mỏ quạ, những đêm trăng trai gái hát trống quân, những đêm trèo ngày vào đám, tất cả cuộc sống nhịp nhàng, đơn sơ, đầy thi vị ngoài đồng ruộng, trong thôn xóm, tất cả những cái gì rất đẹp của quê hương đều lần lượt hiện về trong lòng tôi vì câu hát” => Hình ảnh làng quê Bắc Bộ hiện lên đầy sinh động, gần gũi, nên thơ, đan cài với cảm xúc nhớ nhung và tự hào của nhân vật.

Câu 5 (trang 66 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Bài tùy bút cho em hiểu thêm được gì về điệu hát ru miền Bắc?

Trả lời:

– Bài tùy bút cho em hiểu thêm về điệu hát ru miền Bắc là: Điệu hát ru miền Bắc không đơn thuần chỉ để hát ru em, ru con ngủ mà nó còn là điệu hồn dân tộc, nó là kí ức tuổi thơ của biết bao con người. Nó nhắc nhớ người ta về cội nguồn dân tộc và nơi chôn rau cắt rốn của mình.

 

 

Soạn văn lớp 7 Tập 2

 

 

 

Trưa tha hương – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều

Trưa tha hương – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều

 

 

Trưa tha hương – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều