Thiên nhiên và con người trong truyện Đất rừng phương Nam – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều

Thiên nhiên và con người trong truyện Đất rừng phương Nam – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều

Thiên nhiên và con người trong truyện Đất rừng phương Nam – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều

 

Thiên nhiên và con người trong truyện Đất rừng phương Nam

(Bùi Hồng)

(1) […] Nhân vật trong Đất rừng phương Nam có nhiều tầng lớp, nhiều ngành nghề như một xã hội thu nhỏ, hoạt động suốt hai triền sông (Tiền Giang và Hậu Giang) vào rừng U Minh, xuống tận mũi Cà Mau. Truyện Đất rừng phương Nam có kết cấu chương hồi kiểu truyền thống: không gian, thời gian rạch ròi, nhân vật thiện ác, trắng đen tách bạch và bộc lộ qua hành động, hình dáng, ngôn ngữ. Một văn cách dễ đọc, dễ hiểu, hợp với đại chúng trẻ em. […]

(2) Đoàn Giỏi đã từng viết một loạt sách về các con vật trên rừng, dưới biển, trong đó mỗi con (hổ, cá sấu, voi,…), ông đều kể đến trên dưới 50 trang sách. Không phải chỉ có kiến thức về loài, họ, thói quen sinh thái,… mà phần nhiều là những mẩu chuyện có thật, sinh động xen lẫn những huyền thoại có xuất xứ hẳn hoi. Trong Đất rừng phương Nam, ông chỉ sử dụng một phần rất nhỏ vốn sống phong phú đó mà đã làm người đọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác: ba ba to bằng cái nia, kì đà lớn hơn chiếc xuồng tam bản, cá sấu phải 12 trai tráng lực lưỡng mới khiêng nổi. Người đọc không chỉ ngạc nhiên mà còn thấm đẫm cảm xúc, bởi Đoàn Giỏi là một nhà thơ, một “thi sĩ của đất rừng phương Nam” (ý của Trần Đình Nam). Đó là cảm giác ngây ngất trước vẻ đẹp rừng U Minh dưới ánh Mặt Trời vàng óng: Những thân cây  tràm vỏ trắng vươn thẳng lên trời, chẳng khác gì những cây nến khổng lồ, đầu lá rủ phất phơ như những đầu lá liễu bạt ngàn. Từ trong biển lá xanh rờn đã bắt đầu ngả sáng màu úa, ngát dậy một mùi hương lá tràm bị hun nóng… tiếng chim không ngớt vang ra, vọng mãi lên trời cao xanh thẳm không cùng…. Và nỗi rợn ngợp trước dòng sông Năm Căn: nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng… con sông rộng hơn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dẫy trường thành vô tận…

(3) Cùng với thiên nhiên được Đoàn Giỏi vẽ với những màu sắc lộng lẫy, cuồn cuộn, tràn về sức sống là những con người Nam Bộ với những nét sắc sảo lạ lùng. Ông không nhiều lời, đôi khi chỉ vài ba nét: những lời nói ngọt nhạt, cái túi thâm đen, căng phồng, bóng mỡ của dì Tư Béo; cái áo vắt vai và những câu đối thoại ngật ngưỡng, hài hước, dở tỉnh, dở say của lão Ba Ngù. Tôi muốn nói kĩ hơn hai nhân vật được ông khắc họa kĩ lưỡng nhất: ông Hai bán rắn và chú Võ Tòng. Hai người đều không có đất, quanh năm ở đợ làm thuê cho địa chủ. Bị chúng cướp công, cướp người yêu, cướp vợ. Họ đánh trả và bị tù. Chỗ khác nhau là ông Hai bán rắn – tía nuôi An- trốn tù, đón vợ rồi bỏ vòa rùng U Minh. Một con thuyền nhỏ, hai vợ chồng, thằng con trai và con chó Luốc đi lang thang kiếm sống bằng đủ thứ nghề: câu rắn, lấy mật, săn cá sấu,… Gương mặt ông khoáng đạt, rất dễ mến. Làn da mặt như người trẻ, chỉ ở đôi khóe mắt và trên vầng trán cao là có xếp mấy đường nhăn… Đôi mắt to, sáng quắc, núp dưới cặp chân mày rậm đen… Mấy nét thôi, nhưng hiện ra có vẻ phóng khoáng, tự tin của một đời sống tự do và từng trải. Còn chú Võ Tòng gây án, chú tự đến nhà việc nộp mình. Mãn hạn tù trở về, con chết, vợ trở thành vợ nhỏ chủ đất. Mọi người chờ đợi một cuộc trả thù đẫm máu, nhưng không, Võ Tòng ngửa mặt cười lớn rồi vào rừng làm nghề săn bẫy thú. Đấy là những chuyện người đời truyền tụng, thật ra, chú tên là gì, quê ở đâu cũng không rõ. Võ Tòng là tên mọi người gọi chú từ một sự tích trong truyện Tàu. Tuy nhiên “danh bất hư truyền”, bởi nó còn đâu đó trên gương mặt: Hai hố mắt ông ta sâu hoắm, và từ trong đáy hố sâu thâm đó, một cặp tròng mắt trắng dã, long qua, long lại, sắc như dao. Mái tóc hung hung như bờm ngựa phủ dài xuống gáy… Chỗ gò má bên phải, năm cái sẹo dài sả xuống từ thái dương vắt đến cổ, như đầu móng cọp nào…

Chuyện bác Hai và chú bạn rồi cùng nhau đánh giặc phảng phất màu huyền thoại. Võ Tòng tẩm hàng chục tên thuốc độc và chia bác Hai một nửa. Đã nhiều kẻ thù bị giết vì tên của Võ Tòng. Lần đó, Võ Tòng ngồi trên một cành gừa gie ra sông đón ca nô địch, với hai lần bật cung liên tiếp, chú đã bắn gục hai tên địch. Tiếp đến, một ca nô nữa xuất hiện, khi chú sửa soạn nhô lên ngắm bắn thì bất ngờ lọt vào ống nhòm cuẩ con Việt gain (vợ Tư Mắm). Võ Tòng hi sinh, bác Hai đổi hẳn tính nết, suốt ngày lầm lì không nói một tiếng. Bác Hai bắt rắn là chuyện thực, Võ Tòng là chuyện vừa thực vừa ảo. Chỗ này, tôi nghĩ Đoàn Giỏi lại làm một ngón trộn nữa: trộn cổ điển phương Tây và cổ điển phương Đông – loại tiểu thuyết Tàu vốn rất được phổ cập ở Nam Bộ. Hình thức mà cũng là nội dung. Bởi phương Nam mới khai phá, đất hoang, rừng rậm, chim trời cá nước mênh mông, làm sao người nông dân lại chịu cảnh như anh Pha, chị Dậu,… Họ có nhiều tự do hơn, trước kẻ thù (hai chân và bốn chân), họ chống trả quyết liệt. Với bạn bè giai cấp, họ gắn bó thủy chung. Họ hào hiệp, phóng khoáng kiểu Lương Sơn Bạc. Có thể nói, Đất rừng phương Nam đã nói được cái tinh túy của hồn đất, hồn người một vùng châu thỏ Cửu Long Giang.

 


 

Nội dung chính bài Thiên nhiên và con người trong truyện “Đất rừng phương Nam” – Cánh diều

 

Văn bản “Thiên nhiên và con người trong truyện Đất rừng phương Nam” trình bày những nhận xét của tác giả về con người và thiên nhiên nơi đây mà cụ thể là trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam.

 

Bố cục Thiên nhiên và con người trong truyện “Đất rừng phương Nam”

Chia văn bản thành 3 đoạn:

– Đoạn 1: Từ đầu đến “hợp với đại chúng trẻ em”: Giới thiệu chung về con người và thiên nhiên trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam.

– Đoạn 2: Tiếp theo đến “hai dãy trường thành vô tận”: Khung cảnh thiên nhiên trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam.

– Đoạn 3: Còn lại: Tính cách, phẩm chất của những con người Nam Bộ trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam.

 

Tóm tắt Thiên nhiên và con người trong truyện “Đất rừng phương Nam”

Văn bản miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên trù phú, sôi động ở mảnh đất phương Nam con vật, cây cối, thiên nhiên lồng lộng, cuồn cuộn tràn trề sức sống. Đồng thời tác giả còn miêu tả những con người nơi đây chất phác, thật thà, vui vẻ trong tác phẩm Đất rừng phương Nam.

 

Tác giả – tác phẩm: Thiên nhiên và con người trong truyện “Đất rừng phương Nam”

I. Tác giả văn bản Thiên nhiên và con người trong truyện “Đất rừng phương Nam”

 

– Tên khai sinh: Bùi Văn Hồng, sinh ngày 5/12/1931. Quê quán: Phù Việt, Thạch Hà, Hà Tĩnh. Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng. Vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1984.

– Quá trình học tập, công tác, sáng tác: Tham gia công tác Đoàn từ tháng 8/1945; công tác tuyên huấn, tổ chức Đảng ở quê từ 1948. Bắt đầu viết và in các truyện ký, phê bình sách từ 1951. Sau khi tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Văn, năm 1962 đến 1992 làm biên tập rồi Trưởng ban và Tổng biên tập NXB Kim Đồng.

+ Tác phẩm chính:Trên đất Cẩm Bình (truyện ký, 1968); Cá rô ron không vâng lời mẹ (truyện đồng thoại, 1969); Hoa trái đầu mùa (phê bình tiểu luận, 1987). Mười năm ghi nhận (phê bình tiểu luận,1997); Cô gái bướng bỉnh (truyện ký, 2001); Hương cây – mối tình đầu của tôi (truyện ngắn – 2002); Từ mục đồng đến Kim Đồng (tức Mười năm ghi nhận, có bổ sung, 2002); Mai đây đi hết con đường… (chân dung và hồi ức, 2007)

– Giải thưởng văn học: Tặng thưởng của Ủy ban Thiếu niên nhi đồng và Hội Nhà văn Việt Nam cho tập Trên đất Cẩm Bình (truyện ký, 1968).

II. Tìm hiểu tác phẩm Thiên nhiên và con người trong truyện “Đất rừng phương Nam”

1. Thể loại: Văn bản nghị luận

2. Phương thức biểu đạt: Nghị luận

4. Tóm tắt: Văn bản “Thiên nhiên và con người trong truyện Đất rừng phương Nam” trình bày những nhận xét của tác giả về con người và thiên nhiên nơi đây mà cụ thể là trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam.

 

5. Bố cục:

Chia văn bản thành 3 đoạn:

– Đoạn 1: Từ đầu đến “hợp với đại chúng trẻ em”: Giới thiệu chung về con người và thiên nhiên trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam.

– Đoạn 2: Tiếp theo đến “hai dãy trường thành vô tận”: Khung cảnh thiên nhiên trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam.

– Đoạn 3: Còn lại: Tính cách, phẩm chất của những con người Nam Bộ trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam.

6. Giá trị nội dung:

– Văn bản ca ngợi thiên nhiên trù phú, đa dạng và những con người chất phác, mạnh mẽ trong cuốn tiểu thuyết Đất rừng phương Nam.

– Ca ngợi sự cảm nhận tinh tế, tỉ mỉ, sâu sắc của nhà văn Bùi Hồng.

7. Giá trị nghệ thuật:

– Tác giả đã thành công khi liệt kê những chi tiết đắt giá trong tác phẩm.

– Nghệ thuật phân tích, đánh giá, bình luận cụ thể về thiên nhiên, con người trong cuốn tiểu thuyết Đất rừng phương Nam.

 


 

  1. Chuẩn bị

Hiển thị nội dung

Yêu cầu (trang 84 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Xem lại phần Kiến thức ngữ văn để vận dụng vào đọc hiểu văn bản.

– Khi đọc văn bản nghị luận văn học, các em cần chú ý:

+ Văn bản viết về vấn đề gì? Nhan đề văn bản thể hiện vấn đề ấy như thế nào?

+ Mục đích của văn bản là gì?

+ Các ý kiến, lí lẽ bằng chứng phục vụ cho mục đích của văn bản như thế nào?

– Đọc trước văn bản Thiên nhiên và con người trong truyện “Đất rừng phương Nam” tìm hiểu thêm thông tin về nhà văn Bùi Hồng

– Liên hệ với những hiểu biết của em sau khi học đoạn trích Người đàn ông cô độc giữa rừng trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam (Bài 1) để hiểu thêm văn bản nghị luận này

Trả lời:

– Khi đọc văn bản nghị luận văn học, các em cần chú ý:

+ Văn bản viết về thiên nhiên và con người trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi. Tên nhan đề đã thể hiện đầy đủ, rõ ràng vấn đề đó.

+ Mục đích của văn bản là hướng độc giả có cái nhìn cụ thể, chính xác về thiên nhiên và con người ở Nam Bộ.

+ Các ý kiến, lí lẽ, dẫn chứng xác thực cụ thể nhằm mục đích thể hiện nội dung của văn bản.

– Đọc trước văn bản Thiên nhiên và con người trong truyện “Đất rừng phương Nam” tìm hiểu thêm thông tin về nhà văn Bùi Hồng

Tác giả Bùi Hồng

Tên khai sinh: Bùi Văn Hồng, sinh ngày 5/12/1931. Quê quán: Phù Việt, Thạch Hà, Hà Tĩnh.  Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng. Vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1984.

– Quá trình học tập, công tác, sáng tác: Tham gia công tác Đoàn từ tháng 8/1945; công tác tuyên huấn, tổ chức Đảng ở quê từ 1948. Bắt đầu viết và in các truyện ký, phê bình sách từ 1951. Sau khi tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Văn, năm 1962 đến 1992 làm biên tập rồi Trưởng ban và Tổng biên tập NXB Kim Đồng.

Tác phẩm chính:Trên đất Cẩm Bình (truyện ký, 1968); Cá rô ron không vâng lời mẹ (truyện đồng thoại, 1969); Hoa trái đầu mùa (phê bình tiểu luận, 1987). Mười năm ghi nhận (phê bình tiểu luận,1997); Cô gái bướng bỉnh (truyện ký, 2001); Hương cây – mối tình đầu của tôi (truyện ngắn – 2002); Từ mục đồng đến Kim Đồng (tức Mười năm ghi nhận, có bổ sung, 2002); Mai đây đi hết con đường… (chân dung và hồi ức, 2007)

Giải thưởng văn học: Tặng thưởng của Ủy ban Thiếu niên nhi đồng và Hội Nhà văn Việt Nam cho tập Trên đất Cẩm Bình (truyện ký, 1968).

  1. Đọc hiểu

* Nội dung chính: 

Văn bản “Thiên nhiên và con người trong truyện Đất rừng phương Nam” trình bày những nhận xét của tác giả về con người và thiên nhiên nơi đây mà cụ thể là trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam. 

* Trả lời câu hỏi giữa bài: 

Câu 1 (trang 84 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):  Phần 1 nêu khái quát đặc điểm gì của truyện Đất rừng phương Nam?

Trả lời:

– Phần I đã nêu khái quát đặc điểm đa dạng của các nhân vật trong truyện Đất rừng phương Nam

Câu 2 (trang 85 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):  Mở đầu phần 2, tác giả cho biết nhà văn Đoàn Giỏi có điểm mạnh gì?

Trả lời:

– Nhà văn Đoàn Giỏi có điểm mạnh là viết về các loài vật với sự am hiểu sâu sắc không chỉ về loài, họ, thói quen sinh thái mà phần nhiều là viết về nhưng mẩu chuyện có thật, xen lẫn với những huyền thoại có xuất xứ hẳn hoi về các loài vật đó.

Câu 3 (trang 85 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):  Phân biệt lí lẽ và bằng chứng của người viết

Trả lời:

Lí lẽBằng chứng
Trong Đất rừng phương Nam, ông chỉ sử dụng một phần rất nhỏ vốn sống phong phú đó mà đã làm người đọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.Ba ba to bằng cái nìa, kì đà lớn hơn chiếc thuyền tam bản, cá sấu phải 12 trai tráng lực lưỡng mới khiêng nổi

Câu 4 (trang 85 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):  Những dòng chữ in nghiêng ở đoạn này lấy từ tác phẩm của ai?

Trả lời:

– Được lấy từ tác phẩm Đất rừng phương Nam– Đoàn Giỏi

Câu 5 (trang 85 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):  Câu mở đầu phần 3 cho biết nội dung chính của phần này là gì?

Trả lời:

– Nội dung chính của phần 3 là về những con người Nam Bộ

Câu 6 (trang 85 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):  Những nhân vật nào được nhắc tới trong phần 3 này?

Trả lời:

– Các nhận vật được nhắc tới trong phần 3 là: dì Tư béo, lão Ba Ngù, ông Hai bán rắn, chú Võ Tòng, vợ Tư Mắm.

Câu 7 (trang 86 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):  Chú ý các lí lẽ của tác giả giải thích về tính cách con người Nam Bộ.

Trả lời:

– Lí lẽ: Những màu sắc lỗng lẫy, cuồn cuộn, tràn trề sức sống là những con người Nam Bộ với những nét sắc sảo, lạ lùng.

Câu 8 (trang 87 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):  Câu nào nêu đánh giá chung về truyện Đất rừng phương Nam?

Trả lời:

– Có thể nói, Đất rừng phương Nam đã nói được cái tinh túy của hồn đất, hồn người một vùng châu thổ Cửu Long Giang.

* Trả lời câu hỏi cuối bài: 

Câu 1 (trang 87 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):  Văn bản Thiên nhiên và con người trong truyện “Đất rừng phương Nam” bàn luận về vấn đề gì? Nhan đề của văn bản có liên quan như thế nào với vấn đề ấy?

Trả lời:

– Văn bản Thiên nhiên và con người trong truyện “Đất rừng phương Nam” bàn luận về vấn đề con người và thiên nhiên trong truyện Đất rừng phương Nam

– Nhan đề của văn bản đã nêu cụ thể, rõ ràng vấn đề ấy.

Câu 2 (trang 87 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):  Hãy dẫn ra một số ví dụ về lí lẽ và các bằng chứng được tác giả nêu lên trong bài viết; tham khảo mẫu sau:

Lí lẽBằng chứng
Trong Đất rừng phương Nam, ông chỉ sử dụng một phần rất nhỏ vốn sống phong phú đó mà đã làm người đọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.Ba ba to bằng cái nìa, kì đà lớn hơn chiếc thuyền tam bản, cá sấu phải 12 trai tráng lực lưỡng mới khiêng nổi

Trả lời:

Lí lẽBằng chứng
Trong Đất rừng phương Nam, ông chỉ sử dụng một phần rất nhỏ vốn sống phong phú đó mà đã làm người đọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.Ba ba to bằng cái nìa, kì đà lớn hơn chiếc thuyền tam bản, cá sấu phải 12 trai tráng lực lưỡng mới khiêng nổi
Cảm giác ngây ngất trước vẻ đẹp rừng U Minh dưới ánh mặt trời vàng óngNhững thân cây tràm vỏ trắng vươn thẳng lên trời, chẳng khác gì những cây nến khổng lồ, đầu lá rủ phất phơ như những đầu lá liễu bạt ngàn. Từ trong biển lá xanh rờn đã bắt đầu ngã sang màu úa, ngát dậy một mùi hương lá tràm bị hun nóng dưới mặt trời, tiếng chim không ngớt vang ra, vọng mãi lên trời xanh cao thẳm không cùng
Nỗi rợn ngợp trước dòng sông Năm Căn“Nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác,cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng… con sông rộng ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận…”

Câu 3 (trang 87 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):  Trong phần 3, tác giả đã so sánh hai nhân vật: Ông Hai bán rắn và chú Võ Tòng . Dựa vào bài viết, em hãy chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa hai nhân vật này.

Trả lời:

Chú Võ TòngÔng Hai bán rắn
Giống nhau– Đều không có đất, quanh năm ở đợ làm thuê cho địa chủ, bị chúng cướp công, cướp người yêu, cướp vợ, đánh trả và đi tù

– Cả hai đều có phẩm chất gan dạ, dũng cảm, mạnh mẽ.

– Đều có tinh thần yêu nước, căm thù giặc sâu sắc

Khác nhauChú Võ Tòng gây án , tự đến nhà việc nộp mình, mãn hạn tù trở về con chết, vợ đi làm lẽ cho chủ đất. Chú vào rừng làm nghề sẵn bẫy thúÔng Hai bán rắn trốn tù, đón vợ và bỏ vào rừng U Minh, cả gia đình trên con thuyền nhỏ lang thang kiếm sống bằng đủ thứ nghề.
→ Cả hai nhân vật là đại diện cho những con người ở Nam Bộ, mạnh mẽ, gan dạ, phóng khoáng sống hòa mình với thiên nhiên, sông nước.

Câu 4 (trang 87 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):  Theo em, mục đích chính của văn bản nghị luận trên là gì? Nội dung của các phần trong văn bản đã làm rõ mục đích ấy như thế nào?

Trả lời:

– Mục đích của văn bản nghị luận là muốn người đọc hiểu về thiên nhiên và con người trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam

– Để làm được điều này người viết đã đưa ra các lí lẽ, dẫn chứng logic, rõ ràng để làm rõ mục đích ấy.

Câu 5 (trang 87 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):  Văn bản nghị luận này giúp em hiểu thêm được điều gì về đoạn trích Người đàn ông cô độc giữa rừng (trích truyện Đất rừng phương Nam) đã học ở bài 1?

Trả lời:

Thông qua văn bản này giúp em hiểu được tính cách, phẩm chất của nhân vật Võ Tòng trong đoạn trích Người đàn ông cô độc giữa rừng. Hiểu được phẩm chất của những người dân Nam Bộ chất phác, gan dạ và phóng khoáng

Câu 6 (trang 87 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):  Văn bản Thiên nhiên và con người trong truyện “Đất rừng phương Nam” đã giúp em hiểu văn học góp phần mở rộng kiến thức về con người và thế giới xung quanh như thế nào?

Trả lời:

– Qua văn bản đã giúp em hiểu rằng văn học có vai trò vô cùng to lớn, với những cuốn tiểu thuyết về từng vùng miền khác nhau sẽ giúp ta hiểu về thiên nhiên về tính cách của những con người ở mảnh đất đó.

– Văn học như một môn khoa học đặc biệt, nó không đưa ra những số liệu cụ thể mà nó để con người tự cảm nhận thông qua những dòng chữ, những câu văn.

 

 

Giải bài tập Ngữ Văn 7 – Cánh Diều

 

 

 

Thiên nhiên và con người trong truyện Đất rừng phương Nam – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều

Thiên nhiên và con người trong truyện Đất rừng phương Nam – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều

 

 

Thiên nhiên và con người trong truyện Đất rừng phương Nam – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều