Thảo luận nhóm về một vấn đề – Ngữ Văn 6 – Cánh Diều

Thảo luận nhóm về một vấn đề – Ngữ Văn 6 – Cánh Diều

Thảo luận nhóm về một vấn đề – Ngữ Văn 6 – Cánh Diều

 

1. Định hướng

a) Vấn đề thảo luận ở đây là nguyên nhân dẫn đến kết quả của một sự việc, sự kiện. Nêu lên ý kiến của các cá nhân và trao đổi, thảo luận để thống nhất trong nhóm về những nguyên nhân dẫn đến kết quả ấy.

b) Để thảo luận trong nhóm về những nguyên nhân dẫn đến kết quả của một sự việc, sự kiện, các em cần:

– Xác định sự việc, sự kiện.

– Nêu kết quả của sự việc, sự kiện.

– Chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến kết quả của sự việc, sự kiện.

– Trao đổi, thảo luận về nguyên nhân mà các thành viên trong nhóm nêu ra; thống nhất ý kiến trong nhóm.

2. Thực hành

Bài tập:

Chọn một trong hai vấn đề sau để thảo luận:

– Nguyên nhân nào làm cho nước sạch ngày càng khan hiếm?

– Vì sao cuối học kì I, lớp em được tuyên dương là lớp đứng đầu khối 6?

a) Chuẩn bị

– Lựa chon vấn đề cần thảo luận: Nguyên nhân nào làm cho nước sạch ngày càng khan hiếm?

– Thu thập các thông tin và xác định nguyên nhân:

+ Số nước sạch không phải là vô tận và đang ngày càng bị nhiễm bẩn bởi chính con người gây ra.

+ Số lượng nước sạch được sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày ngày càng tăng do nhu cầu của con người và dân số tăng.

+ Ý thức sử dụng của con người còn phung phí nước sạch, chưa khai thác hợp lí.

– Lựa chọn các phương tiện hỗ trợ.

– Xem lại các yêu cầu nói và nghe trong thảo luận nhóm.

b) Tìm ý và lập dàn ý

– Tìm ý:

+ Kết quả của sự khan hiếm nước sạch: con người không thể sinh sống mà thiếu đi nước.

+ Nguyên nhân dẫn đến sự khan hiếm nước sạch:

Ÿ Số nước ngọt không phải là vô tận và đang ngày càng bị nhiễm bẩn bởi chính con người gây ra.

Ÿ Số lượng nước ngọt được sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày ngày càng tăng do nhu cầu của con người và dân số tăng.

Ÿ Ý thức sử dụng của con người còn phung phí nước ngọt, chưa khai thác hợp lí.

+ Nguyên nhân quan trọng là do ý thức sử dụng của con người.

– Lập dàn ý:

+ Mở đầu: Hiện nay nước sạch ngày càng khan hiếm, cuộc sống của con người bị ảnh hưởng.

+ Nội dung chính:

Ÿ Số nước sạch không phải là vô tận và đang ngày càng bị nhiễm bẩn bởi chính con người gây ra.

Ÿ Số lượng nước sạch được sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày ngày càng tăng do nhu cầu của con người và dân số tăng.

Ÿ Ý thức sử dụng của con người còn phung phí nước sạch, chưa khai thác hợp lí.

Ÿ Con người không thể sinh sống mà thiếu đi nước.

+ Kết thúc: Có rất nhiều nguyên nhân, nếu chúng ta không ý thức hơn trong việc sử dụng nước ngọt thì sự sống của loài người sẽ bị hủy diệt.

c) Nói và nghe

Như các bạn đã biết, thế giới đang xảy ra bùng nổ dân số. Chính vì có quá nhiều người trên trái đất mà nước ngọt để sử dụng không phải vô tận. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc nước sạch ngày càng khan hiếm và do đó mà cuộc sống của con người bị ảnh hưởng.

Chúng ta biết rằng các châu lục được bao quanh bởi đại dương rộng lớn. Thế nhưng đó là nước mặn – nước mà con người không thể sử dụng. Lầm tưởng của chúng ta đó là nghĩ số nước ngọt là vô tận. Nước sạch đã ít mà chúng lại ngày càng bị nhiễm bẩn bởi chính con người gây ra. Những rác thải sinh hoạt thải trực tiếp ra sông ngòi, ao hồ,… đã khiến nguồn nước sạch ô nhiễm.

Dân số đang bùng nổ nên nhu cầu về nước sạch lại tăng cao. Các bạn thử hình dung xem một ngày mình không có nước sạch để sử dụng thì sẽ khủng khiếp như nào? Để sản xuất lương thực thực phẩm cho con người cần sử dụng một lượng khổng lồ nước ngọt. Thiếu đi nước, cây cối sẽ khô cằn, vạn vật chết khô.

Nước sạch đã ít mà ý thức sử dụng của con người còn thấp. Trong sinh hoạt hàng ngày thì phung phí nước ngọt, chưa khai thác một cách hợp lí. Mọi người khi rửa tay, khi tắm vặn vòi nước thật lớn mà chúng ta đâu có sử dụng hết chỗ nước ấy. Hay khi uống nước, chúng ta cứ rót đầy cốc nhưng chỉ uống một nửa rồi lại đổ chỗ nước thừa kia.

Con người không thể sinh sống mà thiếu đi nước sạch được, Thẳng thắn hơn là chúng ta phụ thuộc vào nước sạch thì mới có thể tồn tại được. Nếu nhân loại không biết thay đổi ý thức bản thân, hạn chế lãng phí, sử dụng một cách tiết kiệm thì chúng ta sẽ không thể tồn tại được.

Vậy như tôi vừa trình bày thì có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng khan hiếm nước sạch. Và phần lớn đến từ con người. Nếu chúng ta không ý thức hơn trong việc sử dụng nước ngọt thì sự sống của loài người sẽ bị hủy diệt.

 

Mẫu 2 :

– Một vài ý kiến có thể tham khảo:

– Nguyên nhân dẫn đến tình trạng khan hiếm nước có thể thấy do những yếu tố sau:

Một là, sự tăng nhanh của dân số thế giới. Ngày nay, theo đà tăng của dân số, lượng nước dùng trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt không ngừng tăng. Theo đó, các tác động tiêu cực của tình trạng gia tăng dân số hiện nay trên thế giới ngày càng nhiều. Đó là sức ép lớn tới tài nguyên nước do khai thác quá mức phục vụ cho các nhu cầu nhà ở, sản xuất lương thực, thực phẩm, sản xuất công nghiệp; tạo ra các nguồn thải tập trung vượt quá khả năng tự phân hủy của môi trường tự nhiên trong các khu vực đô thị, khu sản xuất nông nghiệp, công nghiệp… gây ô nhiễm nguồn nước sạch. Sự chênh lệch về tốc độ phát triển dân số giữa các nước công nghiệp hóa và các nước đang phát triển gia tăng, dẫn đến sự nghèo đói ở các nước đang phát triển và sự tiêu phí dư thừa ở các nước công nghiệp hóa. Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa đô thị và nông thôn, giữa các nước phát triển công nghiệp và các nước kém phát triển dẫn đến tình trạng di dân dưới mọi hình thức, ảnh hưởng tới sự phân bố các nguồn nước.

Hai là, môi trường sinh thái bị phá hoại do nạn chặt phá rừng, biến đổi khí hậu,… Trong nhiều năm qua, nạn chặt phá rừng bừa bãi đã gây ra những hiểm họa làm biến dạng hệ sinh thái, tăng nguy cơ khan hiếm nước, đất bị xói mòn, thoái hóa. Theo các chuyên gia, tốc độ nạn phá rừng hiện nay sẽ dẫn tới 2 tỷ người, tức 20% dân số thế giới bị thiếu nước vào năm 2050. Hầu hết số người chịu cảnh thiếu nước này sống tại các quốc gia đang phát triển. Ngoài ra, nguồn thực phẩm cũng có nguy cơ bị đe dọa vì nước dùng để tưới tiêu cũng trở nên khan hiếm. Bên cạnh đó, sự nóng lên của Trái đất khiến nạn hạn hán kéo dài, tình trạng mực nước biển dâng lên, đồng nghĩa với việc cạn kiệt nguồn nước ngọt quý hiếm tại một số nơi, khu vực trên thế giới.

Ba là, sự ô nhiễm tài nguyên nước. Cùng với tốc độ phát triển đô thị hóa, các khu công nghiệp hiện đại là số lượng chất thải làm nhiễm bẩn nguồn nước ngày càng khó kiểm soát. Việc sử dụng thuốc trừ sâu trong nông nghiệp, lượng nước thải ra môi trường của các nhà máy luyện kim, nhiệt điện, hóa chất, thực phẩm, cùng với lượng nước thải do sinh hoạt… khiến nguồn nước sạch bị ô nhiễm nghiêm trọng.

Bốn là, sử dụng và quản lý tài nguyên nước không hợp lý. Sự cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước cũng như sự khan hiếm nguồn nước ngày càng trầm trọng do chưa thực sự có các biện pháp quản lý tốt nguồn tài nguyên nước. Tài nguyên nước hiện vẫn chưa được công nhận giá trị đầy đủ và công tác quản lý còn lỏng lẻo. Hầu hết các quốc gia đều chưa có nhiều hệ thống giám sát thích hợp cho cả khối lượng lẫn chất lượng nước và đặc biệt là việc sử dụng nước lãng phí.

 

d) Kiểm tra và chỉnh sửa

 

 

 

Soạn văn 6 Tập 2

Bài 6: Truyện

Bài 7: Thơ

Bài 8: Văn bản nghị luận

Bài 9: Truyện

Bài 10: Văn bản thông tin

Ôn tập và tự đánh giá cuối học kì 2

 

 

Thảo luận nhóm về một vấn đề – Ngữ Văn 6 – Cánh Diều

Thảo luận nhóm về một vấn đề – Ngữ Văn 6 – Cánh Diều

 

 

Thảo luận nhóm về một vấn đề – Ngữ Văn 6 – Cánh Diều