Thánh Gióng – Ngữ Văn 6 – Cánh Diều

Thánh Gióng – Ngữ Văn 6 – Cánh Diều

Thánh Gióng – Ngữ Văn 6 – Cánh Diều

 

THÁNH GIÓNG

Tục truyền, đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm, bà ra đồng trông thấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử xem thua kém bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh một cậu bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng lắm. Nhưng lạ thay! Đứa trẻ cho đến khi lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy.

Bấy giờ, có giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi nước ta. Thế giặc mạnh, nhà vua lo lắng, bèn sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu nước. Đứa bé nghe tin, bỗng dưng cất tiếng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây”. Sứ giả vào, đứa bé bảo: “Ông về tâu vua sắm cho ta một con ngựa sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này”. Sứ gải vừa kinh ngạc, vừa mừng rõ, vội vàng về tâu vua. Nhà vua truyền cho thợ ngày đêm làm gấp những vật chú bé dặn.

Càng lạ hơn nữa, từ sau hôm gặp sứ giả, chú bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã căng đứt chỉ. Hai vợ chồng làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi con, đành phải chạy nhờ bà con, làng xóm. Bà con đều vui lòng gom góp gạo nuôi chú bé, vì ai cũng mong chú giết giặc, cứu nước.

Giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt. Vừa lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến. Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong, lẫm liệt. Tráng sĩ bước lên vỗ vào mông ngựa. Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngữ phi thẳng đến nơi có giặc, đón đầu chúng đánh giết hết lớp này đến lớp khác, giặc chết như rạ. Bỗng roi sắt gãy. Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ. Đám tàn quân giẫm đạp nhau chạy trốn, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc (Sóc Sơn). Đến đấy, một mình một ngựa, tráng sĩ lên đỉnh núi, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời.

Vua nhớ công ơn, phong là Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ ngay ở quê nhà.

Hiện nay vẫn còn đền thờ ở làng Phù Đổng, tục gọi là làng Gióng. Mỗi năm đến tháng Tư, làng mở hội to lắm. Người ta kể rằng những bụi tre đằng ngà ở huyện Gia Bình vì ngựa phun lửa bị cháy mới ngả màu vàng óng như thế, còn những vết chân ngựa nay thành những hồ ao liên tiếp. Người ta còn nói khi ngựa thét lửa, lửa đã thiêu cháy một làng, cho nên làng đó về sau gọi là làng Cháy.


 

Văn bản: Thánh Gióng 

Câu chuyện “Thánh Gióng” kể về người anh hùng làng Gióng với nhiều màu sắc thần kì là biểu tượng rực rỡ của ý thức và sức mạnh bảo vệ đất nước, đồng thời là sự thể hiện quan niệm và ước mơ của nhân dân ta ngay từ buổi đầu lịch sử về người anh hùng cứu nước chống ngoại xâm.

 

Tóm tắt Thánh Gióng

Tóm tắt tác phẩm Thánh Gióng – Mẫu 1

Ngày xưa, vào thời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng nghèo. Họ chăm chỉ, hiền lành mà vẫn chưa có con. Một hôm nọ, người vợ ra đồng thì nhìn thấy một vết chân lạ. Bà đặt chân vào ướm thử, về nhà mang thai đến mươi hai tháng mới sinh ra một cậu con trai. Cậu bé lên ba tuổi vẫn chưa biết nói biết cười. Bấy giờ, giặc Ân sang xâm lược nước ta. Nhà vua muốn tìm ra người tài để giúp nước, liền sai sứ giả đi khắp nơi. Khi sứ giả đến làng Gióng, cậu bé bảo với mẹ mời sứ giả vào để xin đi đánh giặc. Cậu bé liền nói với sứ giả rằng hãy về tâu nhà vua rèn cho một con ngựa sắt, một chiếc áo giáp sắt và một thanh gươm sắt. Từ đó, cậu bé lớn nhanh như thổi, người dân trong làng phải góp công nuôi lớn. Quân giặc đánh đến nơi cũng là lúc sứ giả mang ngựa sắt, roi sắt và áo giáp sắt đến. Gióng vươn vai thành tráng sĩ, đánh tan quân giặc. Giặc tan, tráng sĩ một mình một ngựa lên đỉnh núi Sóc Sơn rồi bay thẳng về trời. Vua Hùng cho lập đền thờ để tưởng nhớ công ơn.

Tóm tắt tác phẩm Thánh Gióng – Mẫu 2

Xưa ở làng Gióng có hai vợ chồng hiền lành, phúc đức mà vẫn chưa có một mụn con. Vào một lần, bà vợ đi ra đồng, thì nhìn thấy một vết chân lạ liền ướm thử. Về nhà bà mang thai. Đến mười hai tháng sau mới sinh ra được một cậu bé. Nhưng cậu lên ba tuổi vẫn chưa biết nói biết cười. Lúc bấy giờ, giặc Ân sang xâm lược nước ta. Vua Hùng muốn tìm người tài giúp nước liền sai sứ giả đi khắp nơi. Đến làng Gióng, cậu bé nghe tiếng của sứ giả liền nói với mẹ mời sứ giả vào. Cậu nói với sứ giả về tâu với vua sắm cho một con ngựa sắt, một cái gươm sắt và một tấm áo giáp sắt để đánh giặc. Từ hôm đó trở đi, cậu bé lớn nhanh như thổi, người dân trong làng phải góp gạo nuôi lớn. Quân giặc đánh đến nơi, cậu bỗng chốc vươn vai thành tráng sĩ. Tráng sĩ đánh tan quân giặc, sau đó một mình một ngựa lên đỉnh núi Sóc Sơn rồi bay thẳng về trời. Nhà vua nhớ công ơn tôn là Phù Đổng Thiên Vương và cho lập đền thờ tại quê nhà.

Tóm tắt tác phẩm Thánh Gióng – Mẫu 3

Đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng nọ. Tuy làm ăn chăm chỉ, lại có tiếng là phúc đức nhưng mãi không có con. Một hôm, bà vợ ra đồng ướm chân vào một vết chân lạ, về nhà bà thụ thai. Bà mang thai mười hai tháng mới sinh ra một cậu bé. Nhưng kì lạ thay, cậu bé lên ba mà vẫn không biết nói biết cười. Bấy giờ, giặc Ân tràn vào bờ cõi nước ta. Thế giặc rất mạnh. Vua Hùng bèn sai người đi tìm người tài giúp nước. Khi nghe tiếng của sứ giả, cậu bé bỗng cất tiếng nói xin được đánh giặc. Từ đấy cậu bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng chẳng no. Cậu bé vươn vai thành tráng sĩ, rồi mặc áo giáp sắt, cưỡi ngựa sắt và cầm roi sắt xông ra diệt giặc. Roi sắt gãy, Gióng bèn nhổ cả những bụi tre bên đường để quét sạch giặc thù. Khi giặc tan, Gióng một mình một ngựa lên đỉnh núi Sóc Sơn rồi bay thẳng về trời. Nhân dân lập đền thờ để tưởng nhớ công ơn. Ngày nay vẫn còn lại những dấu tích xưa.

 

Bố cục Thánh Gióng

Có thể chia văn bản thành 4 đoạn:

+ Đoạn 1: Từ đầu đến “đặt đâu nằm đấy” : Sự ra đời của Gióng.

+ Đoạn 2: Tiếp theo đến “giết giặc cứu nước” : Gióng đòi đi đánh giặc, sự lớn bổng kì lạ.

+ Đoạn 3: Tiếp theo đến “lên trời, biến mất” : Gióng đánh giặc và bay về trời.

+ Đoạn 4: Đoạn còn lại: Nhân dân ghi nhớ công ơn.


 

1. Chuẩn bị 

– Truyện truyền thuyết là loại truyện dân gian, có yếu tố hoang đường, kì ảo, kể về các sự kiện và nhân vật liên quan đến lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc phong tục, cảnh vật địa phương theo quan niệm của nhân dân.

– Khi đọc truyện truyền thuyết:

+ Truyện xảy ra vào đời Hùng Vương thứ sáu.

+ Kể về một cậu bé mười hai tháng mới ra đời, lên ba chưa biết nói, biết cười, đặt đâu nằm đấy nhưng khi nghe tin giặc đến lại thay đổi kì lại và đứng lên chống lại kẻ thù.

+ Nhân vật nổi bật trong tác phẩm là Thánh Gióng.

+ Truyện liên quan đến sự thật lịch sử:

Ÿ Cuộc chiến đấu giữa dân ta và kẻ thù xâm lược phương Bắc.

Ÿ Vũ khí bằng sắt, thép đã được chế tạo bởi người Việt cổ.

Ÿ Toàn dân đoàn kết cùng nhau, sử dụng mọi nguồn lực để chống phá quân giặc, đánh đuổi chúng ra khỏi lãnh thổ.

+ Chi tiết tưởng tượng hoang đường, kì ảo:

Ÿ Bà mẹ ướm vào vết chân lạ rất to ở trên đồng mà thụ thai.

Ÿ Mang thai dài tận mười hai tháng; ba tuổi mà cậu bé chẳng biết đi đứng, nói cười.

Ÿ Khi sứ giả đến tìm người tài giỏi giúp cứu nước, Gióng bỗng dưng cất tiếng nói với mẹ xin đi đánh giặc.

Ÿ Gióng lớn nhanh như thổi, ăn cơm bao nhiêu cũng không no, áo rộng bao nhiêu vừa mặc xong đã đứt chỉ.

Ÿ Nghe tin giặc đến, Gióng vươn vai biến thành một tráng sĩ cao lớn.

Ÿ Ngựa sắt mà kêu hí lại phun thêm lửa.

Ÿ Nhổ tre ven đường đánh giặc, giặc tan vỡ.

Ÿ Khi dẹp giặc xong, Gióng và ngựa sắt từ từ bay lên trời.

Ÿ Lửa ngựa phun thiêu cháy một làng, khiến tre ngả màu vàng óng; vết chân ngựa biến thành ao hồ,…

+ Truyện muốn ca ngợi công cuộc chống giặc ngoại xâm, truyền thống đoàn kết sức mạnh của cả cộng đồng, dùng tất cả các nguồn lực để đánh giặc.

→ Qua đó, để lại bài học cho em và thế hệ thanh thiếu niên tương lai, bài học về giữ gìn, xây dựng, bảo vệ đất nước trong cuộc sống hiện nay.

2. Đọc hiểu

a. Trong khi đọc

Câu hỏi trang 16 SGK Ngữ văn 6 tập 1: Chú ý các chi tiết khác thường ở phần 1.

Trả lời: 

Chi tiết khác thường:

– Người vợ thử ướm vào vết chân khổng lồ giữa đồng liền thụ thai.

– Mười hai tháng sau cậu bé mới ra đời.

– Lên ba, đứa trẻ vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu nằm đấy.

Câu hỏi trang 16 SGK Ngữ văn 6 tập 1: Câu nói đầu tiên của chú bé là gì ?

Trả lời: 

Câu nói đầu tiên của chú bé là với mẹ rằng “Mẹ ra mời sứ giả vào đây” khi nghe thấy tiếng rao tìm người tài giỏi của sứ giả.

Câu hỏi trang 16 SGK Ngữ văn 6 tập 1: Những ai góp phần nuôi chú bé?

Trả lời: 

Bên cạnh cha mẹ, bà con, làng xóm là những người đã gom góp gạo nuôi chú bé vì ai cũng mong chú giết giặc, cứu nước.

Câu hỏi trang 17 SGK Ngữ văn 6 tập 1: Chú ý các chi tiết làm nổi bật phẩm chất nhân vật.

Trả lời: 

Các chi tiết làm nổi bật phẩm chất nhân vật:

Sứ giả vào, đứa bé bảo: “Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này”. → Sẵn sàng chiến đấu dẹp giặc, hi sinh vì đất nước.

Một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. → Thể hiện khí thế hơn người.

… tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc, đón đầu chúng, đánh giết hết lớp này đến lớp khác, giặc chết như ngả rạ. → Phẩm chất anh hùng chủ động trong tình thế, sức mạnh hơn người.

Bỗng roi sắt gãy. Tráng sĩ bè nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. → Khẳng định sức mạnh phi phàm của nhân vật, thể hiện sự thông minh, nhanh nhạy của anh hùng trong chiến đấu.

– Đánh giặc xong cưỡi ngựa bay lên trời → Phẩm chất trong sạch, khẳng định hành động chính nghĩa mà anh hùng vừa thực hiện.

Câu hỏi trang 17 SGK Ngữ văn 6 tập 1: Chi tiết kết thúc truyện ở phần 4 có gì đáng chú ý?

Trả lời: 

Chi tiết kết thúc:

– Vua nhớ công ơn phong Thánh Gióng là Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ ngay ở quê nhà, mở hội làng Gióng. → Ca ngợi, tôn vinh công lao của anh hùng.

– Bụi tre đằng ngà do ngựa phun lửa cháy, vết chân ngựa để lại thành những ao hồ, lửa thiêu cháy một làng nên gọi đó là làng Cháy. → Giải thích nguồn gốc, phong tục theo quan niệm của dân gian.

b. Sau khi đọc

Câu 1 trang 18 SGK Ngữ văn 6 tập 1: Hãy nêu một số sự kiện chính của truyện Thánh Gióng.

Trả lời: 

Một số sự kiện chính của truyện Thánh Gióng: Sự ra đời kì lạ của Thánh Gióng → Thánh Gióng biết nói và đòi đi đánh giặc → Gióng lớn nhanh như thổi → Vươn vai mặc áo giáo sắt, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt → Thánh Gióng dẹp tan quân giặc → Sau đó, người cùng với ngựa bay lên trời.

Câu 2 trang 18 SGK Ngữ văn 6 tập 1: Trong truyện, Thánh Gióng bộc lộ những phẩm chất nào? Tên truyện Thánh Gióng gợi cho em suy nghĩ gì về thái độ của người kể đối với nhân vật Gióng?

Trả lời: 

– Trong truyện, Thánh Gióng bộc lộ những phẩm chất của một người anh hùng kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm.

+ Nói với sứ giả những yêu cầu về tư trang để được đi đánh giặc của Thánh Gióng → Sẵn sàng chiến đấu dẹp giặc, hi sinh vì đất nước.

+ Đến nơi có giặc để chặn đánh → Phẩm chất anh hùng chủ động trong tình thế, sức mạnh hơn người.

+ Nhổ những cụm tre để thay thế roi sắt bị gãy → Khẳng định sức mạnh phi phàm của nhân vật, thể hiện sự thông minh, nhanh nhạy của anh hùng trong chiến đấu.

+ Đánh giặc xong cưỡi ngựa bay lên trời → Phẩm chất trong sạch, khẳng định hành động chính nghĩa mà anh hùng vừa thực hiện.

– Tên truyện Thánh Gióng gợi cho em suy nghĩ về thái độ của người kể đối với nhân vật Gióng: Sự ca ngợi, tôn vinh dành cho Thánh Gióng. Một trong “Tứ bất tử” (tên gọi chung của bốn vị thánh bất tử trong tín ngưỡng Việt Nam), tượng trưng cho tinh thần chống ngoại xâm và sức mạnh tuổi trẻ.

Câu 3 trang 18 SGK Ngữ văn 6 tập 1: Tìm các chi tiết cho thấy truyện có liên quan đến lịch sử.

Trả lời: 

Các chi tiết cho thấy truyện có liên quan đến lịch sử:

– Cuộc chiến đấu giữa dân ta và kẻ thù xâm lược phương Bắc.

– Vũ khí bằng sắt, thép đã được chế tạo bởi người Việt cổ.

– Toàn dân đoàn kết cùng nhau, sử dụng mọi nguồn lực để chống phá quân giặc, đánh đuổi chúng ra khỏi lãnh thổ.

Câu 4 trang 18 SGK Ngữ văn 6 tập 1: Tìm những chi tiết hoang đường, kì ảo trong truyện Thánh Gióng. Những chi tiết đó có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung?

Trả lời: 

– Những chi tiết hoang đường, kì ảo trong truyện Thánh Gióng:

+ Bà mẹ ướm vào vết chân lạ rất to ở trên đồng mà thụ thai.

+ Mang thai dài tận mười hai tháng; ba tuổi mà cậu bé chẳng biết đi đứng, nói cười.

+ Khi sứ giả đến tìm người tài giỏi giúp cứu nước, Gióng bỗng dưng cất tiếng nói với mẹ xin đi đánh giặc.

+ Gióng lớn nhanh như thổi, ăn cơm bao nhiêu cũng không no, áo rộng bao nhiêu vừa mặc xong đã đứt chỉ.

+ Nghe tin giặc đến, Gióng vươn vai biến thành một tráng sĩ cao lớn.

+ Ngựa sắt mà kêu hí lại phun thêm lửa.

+ Nhổ tre ven đường đánh giặc, giặc tan vỡ.

+ Khi dẹp giặc xong, Gióng và ngựa sắt từ từ bay lên trời.

+ Lửa ngựa phun thiêu cháy một làng, khiến tre ngả màu vàng óng; vết chân ngựa biến thành ao hồ,…

– Tác dụng của những chi tiết trên trong việc thể hiện nội dung: Xây dựng biểu tưởng về một người anh hùng chống giặc ngoại xâm cứu nước, qua đó bộc lộ lòng yêu nước và sức mạnh của dân tộc.

Câu 5 trang 18 SGK Ngữ văn 6 tập 1: Theo em, truyện đã phản ánh được hiện thực và ước mơ gì của cha ông ta?

Trả lời: 

Truyện phản ánh hiện thực và ước mơ của cha ông ta:

– Sự thật là nhân dân ta đã đứng lên đấu tranh chống lại quân thù.

– Mơ ước về một hình mẫu lí tưởng về một người anh hùng tràn đầy sức mạnh, khí thế hơn người.

– Phán ảnh sức mạnh tiềm tàng ở trong nội lực con người và sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc.

Câu 6 trang 18 SGK Ngữ văn 6 tập 1: Vì sao Đại hội thể dục thể thao dành cho học sinh phổ thông Việt Nam được lấy tên là Hội khỏe Phù Đổng?

Trả lời: 

Lí do đặt tên:

– Hội thi dành cho học sinh các cấp – đại diện cho Thánh Gióng trong thời đại mới.

– Thánh Gióng tượng trưng cho tinh thần chiến thắng chống ngoại xâm và sức mạnh tuổi trẻ nên phù hợp với ý nghĩa của một hội thi thể thao.

– Mục đích của Đại hội thể dục thể thao là khoẻ khoắn để học tập, lao động, góp phần bảo vệ và xây dựng Tổ quốc sau này.

 

 

Bài mở đầu

Bài 1: Truyện

Bài 2: Thơ

 

Bài 3: Kí

Bài 4: Văn bản nghị luận

Bài 5: Văn bản thông tin

Ôn tập và tự đánh giá cuối học kì 1

 

 

 

Thánh Gióng – Ngữ Văn 6 – Cánh Diều

Thánh Gióng – Ngữ Văn 6 – Cánh Diều

 

 

 

Thánh Gióng – Ngữ Văn 6 – Cánh Diều