Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ ? – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều

Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ ? – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều

Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ ? – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều

 

NƯỚC VIỆT NAM TA NHỎ HAY KHÔNG NHỎ?

(Dương Trung Quốc)

[…] Hãy đọc lại Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi:

Như nước Đại Việt ta từ trước,

Vốn xung nền văn hiến đã lâu.

Núi sông bờ cõi đã chia,

Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập,

Cùng Hán, Đường, Tổng, Nguyên mỗi bên xưng để một phương.

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

Song hào kiệt đời nào cũng có.

Nhà bác học Lê Quý Đôn khi viết về dân tộc của mình luôn nói tới niềm tự hào “Nước Nam ta nổi tiếng là văn hiến…”, “văn vật điển chương rất đẹp, không kém gì Trung Quốc”.

Ngô Thì Nhậm đi sứ phương Bắc, lúc trở về làm bài thơ Hoản nhĩ ngâm (Mim cười mà ngâm ngợi) thốt lên niềm tự hào: “May mắn thay! Chúng ta được sinh ra ở nước Nam… chớ bảo rằng ta kém văn minh…”. Phan Thanh Giản đi sứ Tây kinh”, tàu đến một cảng biển ngoại quốc, theo thông lệ phải giương Quốc kì của sứ đoàn, Phan bèn lấy tấm lụa rồi dùng son mà viết hai chữ lớn “Đại Nam” treo lên mũi tàu mà biểu trưng niềm tự hào dân tộc nơi đất khách quê người….

Những chuyện như thế trong sử sách nhiều lắm. Không có niềm tự hào ấy, chúng ta không tồn tại được. Chính sự phấn đấu để tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam đã làm nên niềm tự hào đó.

Ngót trăm năm đô hộ của thực dân Pháp là một nỗi nhục lớn của dân tộc Việt Nam sau hơn một thiên niên kỉ tự chủ, hơn mười lần đánh thắng mọi thế lực ngoại xâm. Đến thế kỉ XIX, chỉ vài trăm tên lính đánh thuê đã hạ nổi thành Hà Nội, nơi có những người anh hùng như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu cầm quân. Những người anh hùng đó đã phải tự vẫn cho khỏi thẹn với núi sông. Những bài học trên ghế học trò “Tổ tiên ta là người Gô-loa (Gaulois)” mà thực dân nhồi sọ, thảm cảnh của những người cu li Việt phải tha phương cầu thực ở những đồn điền hải ngoại và của những trai tráng người Việt sang làm bia đỡ đạn bên trời Âu trong hai cuộc đại chiến cũng như sự khốn cùng của nhân dân dưới ách áp bức của thực dân và phong kiến… đã dồn nén lòng tự ái dân tộc thành một sức mạnh phi thường khi có được ngọn cờ tụ nghĩa. Từ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học,… đến Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đều thấm cái nỗi nhục mất nước để tạo nên sức vùng dậy của cả một dân tộc giành quyền làm chủ của mình.

Dân tộc ấy đã công khai tuyên bố quyền tự chủ của mình trên những nguyên lí phổ quát của nhân loại. Và dân tộc ấy đã tự chứng minh sức mạnh của mình bằng ba cuộc chiến tranh vệ quốc liên tiếp trong hơn bốn thập kỉ với biết bao nhiêu xương máu khi đã không còn con đường lựa chọn nào khác ngoài ý chí “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Nhưng điều gì khiến cho công cuộc 20 năm Đổi mới được biểu dương như những thành tựu to lớn mà có người còn sánh với những chiến công của lịch sử giữ nước, cuối cùng, vẫn không giúp chúng ta tránh được nguy cơ tụt hậu? Ai cũng biết giữ được mức tăng GDP thuộc loại nhất nhì khu vực, đặc biệt là giữ được sự ổn định về an ninh là một cố gắng rất lớn. Nhưng mục tiêu thoát khỏi nguy cơ tụt hậu ngày càng xa vời. Phải tìm cho ra những lí do của sự tụt hậu mới mong thoát được nguy cơ tụt hậu.

Đương nhiên, chiến tranh luôn được viện dẫn làm lí do hàng đầu. Chiến tranh tàn phá của cải vật chất, để lại những hậu quả rất nặng nề. Chiến tranh mang lại nhiều đau thương mất mát, kể cả những di chứng lâu dài cho con người… Những lí do ấy đều thấy được, cân đong đo đếm được và trên thực tế, ta đã có nhiều thập kỉ khắc phục. Nhưng còn có một lí do mà không phải là khó thấy. Đó chính là nếp nghĩ và hành xử. […]

Cách hành xử và tâm thế của chúng ta dường như luôn mặc cảm Việt Nam giờ đây là nước nhỏ. Không ít những phát biểu của các quan chức luôn khiến ta nghĩ rằng Tổ quốc của mình giống như những địa phương mong được xếp vào diện nghèo hay vùng sâu, vùng xa của thế giới để được hưởng những ưu tiên, trợ giúp, mà không thấy nỗi hèn nhục của một nước nghèo và tụt hậu.

Lại nhớ đến điều mà vị Đại tướng góp phần đánh thắng hai đế quốc to nhắc nhớ. “Có một thế hệ hằng ngày nhìn vết đạn của ngoại xâm trên thành Cửa Bắc để nuôi chỉ rửa sạch nỗi nhục mất nước.”. Bây giờ, nếu mỗi ngày, cùng với dự báo thời tiết, chúng ta công bố thứ hạng về trình độ phát triển cùng những món tiền nợ nước ngoài để thẩm được cải nỗi nhục tụt hậu, chúng ta mới chiến thắng nghèo hèn để vươn lên cho xứng đáng với dân tộc của mình…

Tôi đã gặp hai con người, hai nhà doanh nghiệp quyết định đặt tên cho những công trình và thương hiệu của mình bằng những quốc danh thời xa xưa. […] Hỏi vì sao lại đặt tên như vậy, cả hai đều nhắc đến tâm thế của người xưa về niềm tự hào dân tộc, rằng chính vì niềm tự hào ấy mà ông cha ta đã để lại cho thế hệ chúng ta cả một cơ đồ, một giang sơn gấm vóc. Cả hai đều chất vấn tôi bằng một câu hỏi: “Vậy thì Việt Nam có phải là một nước nhỏ hay không?”. Và cả hai đều cho rằng, nếu tâm thể của ta nhỏ thì nước ta thành nước nhỏ, nếu chỉ bỏ mình trong những ước vọng chật hẹp thì mục tiêu thoát khỏi nguy cơ tụt hậu là vô vọng. Còn như tâm thế ta lớn thì dám làm cái lớn và sẽ làm cho nước ta lớn, như cha ông ta đã tư duy và hành xử.

Viết bài báo này, tôi cũng muốn bạn đọc cùng chia sẻ với câu hỏi sâu sắc: “Việt Nam là nước nhỏ hay không nhỏ?”.

(Theo báo Thanh Niên, ngày 26-3-2006)


 

1. Chuẩn bị

Yêu cầu (trang 120 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1):

– Đọc trước văn bản Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ?; tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Dương Trung Quốc.

– Diễn đàn “Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ?” được báo Thanh Niên mở ra từ ngày 27-3 đến 30-6-2006, bắt đầu từ bài báo của nhà nghiên cứu lịch sử Dương Trung Quốc. Diễn đàn đã thu hút hàng vạn lượt ý kiến của bạn đọc trong và ngoài nước, thể hiện tâm huyết của mọi tầng lớp người Việt Nam mong muốn đất nước thoát khỏi tình trạng tụt hậu, kém phát triển với tâm lí nước nhỏ để trở thành một quốc gia hùng mạnh.

Trả lời:

– Một số thông tin về tác giả Dương Trung Quốc:

+ Dương Trung Quốc (2/6/1947) là nhà nghiên cứu lịch sử và chính trị gia người Việt Nam. Ông từng là đại biểu Quốc hội Việt Nam, là một trong 21 người ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam trúng cử).

+ Năm 2016, ông là ứng cử viên đại biểu Quốc hội do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu ứng cử.

+ Ông nổi tiếng vì những phát biểu thẳng thắn của mình trong các kỳ họp quốc hội. Ông có bằng cử nhân chuyên ngành lịch sử, là Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Tổng Biên tập tạp chí Xưa & Nay và chủ tịch Hiệp hội Câu lạc bộ UNESCO Hà Nội.

+ Ông còn là đại biểu Quốc hội thâm niên của Việt Nam qua bốn khóa XI, XII, XIII, XIV thuộc đoàn đại biểu tỉnh Đồng Nai.

2. Đọc hiểu

* Nội dung chính: Văn bản bàn về vấn đề “Việt Nam là nước nhỏ hay không nhỏ?”, qua đó giúp cho mỗi công dân Việt Nam có cái nhìn toàn diện, khách quan, chân thực nhất về vấn đề này trong xã hội ngày nay.

 

* Trả lời câu hỏi giữa bài:

Câu 1 (trang 120 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Vì sao tác giả nhắc tới Đại cáo bình Ngô?

Trả lời:

– Tác giả nhắc tới Đại cáo bình Ngô vì ông muốn sử dụng tác phẩm này dẫn dắt vào nội dung bài viết.

 

 

Câu 2 (trang 120 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Tác giả nêu những câu chuyện lịch sử này nhằm mục đích gì?

Trả lời:

– Tác giả nêu những câu chuyện lịch sử này nhằm mục đích khẳng định đất nước Việt Nam ta là một quốc gia đáng tự hào từ lâu đời.

Câu 3 (trang 121 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Chú ý đến những yếu tố tạo nên sức mạnh của dân tộc.

Trả lời:

– Những yếu tố tạo nên sức mạnh của dân tộc: cuộc chiến tranh vệ quốc liên tiếp trong hơn bốn thập kỉ với bao xương máu khi đã không còn con đường lựa chọn nào khác ngoài ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Câu 4 (trang 121 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Tác giả bài viết đặt ra vấn đề gì trong phần (3)?

Trả lời:

– Vấn đề trong phần (3): Nhưng điều gì khiến cho công cuộc 20 năm Đổi mới được biểu dương như những thành tự to lớn với những chiến công của lịch sử giữ nước, cuối cùng vẫn không giúp nước ta tránh được nguy cơ tụt hậu?

Câu 5 (trang 122 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Vị Đại tướng đó là ai và ông nhắc nhở chuyện gì?

Trả lời:

– Vị Đại tướng đó là Võ Nguyên Giáp.

– Ông nhắc nhở: “Có một thế hệ hằng ngày nhìn vết đạn của ngoại xâm trên thành Cửa Bắc để nuôi chí rửa sạch nỗi nhục mất nước”.

Câu 6 (trang 122 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Em hiểu “quốc danh” là gì? Cho một vài ví dụ.

Trả lời:

– Quốc danh: tên gọi của một đất nước.

– Ví dụ: Đại Việt, Âu Lạc,..

 * Trả lời câu hỏi cuối bài:

Câu 1 (trang 123 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Em hiểu nhan đề văn bản Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ? như thế nào? Hãy xác định luận đề và các luận điểm của bài viết.

Trả lời:

– Nhan đề đặt ra một câu hỏi với đọc về việc đánh giá đất nước Việt Nam ta.

– Luận đề: Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ?

– Luận điểm:

+ Luận điểm 1: Sự tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam.

+ Luận điểm 2: Bằng chứng chứng minh cho sức mạnh của đất nước Việt Nam khi trải qua các cuộc chiến tranh suốt hơn bốn thập kỉ qua.

+ Luận điểm 3: Chỉ ra nguyên nhân dẫn đến nguy cơ thụt lùi của đất nước.

+ Luận điểm 4: Tâm thế lớn, cách nhìn nhận về đất nước.

Câu 2 (trang 123 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Phần (1) và (2) của bài viết nhắc lại lịch sử nhằm mục đích gì? Đâu là điều đã tạo nên sức mạnh dân tộc trong những giai đoạn lịch sử quan trọng?

Trả lời:

– Phần (1) và (2) của bài viết nhắc lại lịch sử nhằm mục đích giúp người đọc hiểu rõ về thời kì, con người đó đã đấu tranh, hi sinh để đánh đổi được một đất nước như ngày hôm nay, tự hào về lịch sử hào hùng đó.

– Điều đã tạo nên sức mạnh của một dân tộc trong những giai đoạn lịch sử quan trọng đó chính là niềm tự hào, tự tôn dân tộc.

Câu 3 (trang 123 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Theo tác giả bài nghị luận, những nguyên nhân nào dẫn đến sự tụt hậu của đất nước trong thời kì mới? Dẫn ra ý kiến chủ quan của người viết và các lí lẽ, bằng chứng khách quan (có thể kiểm chứng được) trong văn bản.

Trả lời:

– Theo tác giả bài nghị luận, những nguyên nhân dẫn đến sự tụt hậu của đất nước trong thời kì: Chiến tranh tàn phá của cải vật chất, để lại những tổn thất nặng nề và cách suy nghĩ và hành xử cửa con người.

– Ý kiến chủ quan của người viết: “Cách hành xử và tâm thế của chúng ta dường như luôn mặc cảm Việt Nam giờ đây là nước nhỏ. Không ít những phát biểu của các quan chức luôn khiến ta nghĩ rằng Tổ quốc của mình giống như những địa phương mong được xếp vào diện nghèo hay vùng sâu, vùng xa của thế giới để được hưởng những ưu tiên, trợ giúp, mà không thấy nỗi hèn nhục của một nước nghèo và tụt hậu.”

– Các lí lẽ, bằng chứng khách quan:

+ Bây giờ, nếu mỗi ngày, cùng ….chúng ta mới chiến thắng nghèo hèn để vươn lên cho xứng đáng với dân tộc của mình,….nếu chỉ bỏ mình bỏ mình trong những ước muốn chật hẹp thì mục tiêu thoát khỏi nguy cơ tụt hậu là vô vọng. Còn như…..hành xử.

+ Lời nhắc nhở của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hai nhà doanh nghiệp

Câu 4 (trang 123 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Vấn đề tác giả đặt ra trong bài viết có ý nghĩa như thế nào đối với thế hệ trẻ hiện nay? Theo em, làm thế nào để có thể thoát khỏi tâm lí và cách hành xử tự ti của “một nước nhỏ”?

Trả lời:

– Vấn đề tác giả đặt ra trong bài viết có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ hiện nay, tác động đến nhận thức và hành động trong việc giúp đất nước phát triển đi lên.

– Theo em, để có thể thoát khỏi tâm lí và cách hành xử tự ti của “một nước nhỏ”, chúng ta cần nhìn vào lịch sử, học hỏi cha ông ta, cố gắng học tập, tu dưỡng đạo đức, để trong tương lai, ngày gần nhất ta sớm trở thành những công dân có ích cho xã hội, phát triển đất nước giàu mạnh hơn.

Câu 5 (trang 123 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Hãy viết một đoạn văn (khoảng 8 – 10 dòng) trình bày quan điểm của em về vấn đề “Việt Nam là nước nhỏ hay không nhỏ”?

Trả lời:

“Việt Nam là nước nhỏ hay không nhỏ”? là một trong những vấn đề đáng được quan tâm trong xã hội ngày nay. Với những lịch sử hào hùng, đầy tự hào từ thuở cha ông khai sinh lập địa tới nay, mỗi chúng ta đều có thể ngẩng cao đầu với các nước khác khi giới thiệu, khẳng định về đất nước nghìn năm văn hiến của chúng ta. Mặc dù vậy, nước ta có nguy cơ tụt hậu vì chiến tranh và tâm thế nhỏ của một số người mặc cảm về đất nước nhưng đừng vì những điều nhỏ bé đó mà làm đánh mất đi sự vẻ vang, tự hào khi nói về Việt Nam. Hãy nhìn vào những mặt tích cực, những điều tốt đẹp mà cha ông dành cho chúng ta, những điều mà biết bao thế hệ phải đánh đổi bằng xương máu của mình để lại cho con cháu bây giờ. Để rồi từ đó, mỗi chúng ta hãy cần phải biết phát huy, bảo vệ những điều vốn có để giúp đất nước ngày một phát triển hơn.

 

Mẫu 2 :

Đất nước ta tuy là một đất nước nhỏ nhưng lại có riêng cho dân tộc mình những truyền thống quý báu. Nước chúng ta có thể nhỏ về diện tích nhưng tinh thần và lòng yêu nước của ta chưa bao giờ nhỏ. Đất nước ta đang trên đà phát triển tuy còn nhiều khó khăn nhưng từng ngày từng giờ những công dân Việt Nam vẫn luôn nỗ lực, cố gắng xây dựng đất nước giàu đẹp. Tuy chưa thể so sánh với các quốc gia hiện đại trên thế giới, song bằng tinh thần và ý chí nghị lực, con người Việt Nam đã và đang trên con đường hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước. Chúng ta nên có cho mình lòng tự tôn, tự hào dân tộc và nỗ lực xây dựng đất nước phát triển hơn trong tương lai.

 

 

 

 

Giải bài tập Văn Học 8 – Cánh Diều

 

 

 

Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ ? – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều

Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ ? – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều

 

 

Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ ? – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều