Người ngồi đợi trước hiên nhà – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều

Người ngồi đợi trước hiên nhà – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều

 

Người ngồi trước hiên nhà

Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ (Genève) được kí kết, cuối năm 1954 – đầu năm 1955, ở quê tôi gần một nửa số gia đình có người thân đi tập kết ra miền Bắc. Không khí làng quê chùng xuống vì tình cảnh kẻ Bắc người Nam. Những người đàn bà tiễn chồng, tiễn con ra đi, mắt đẫm lệ, hẹn hai năm trở về mà lòng còn nghi ngại. Chính quyền “quốc gia” tiếp thu từ vĩ tuyến 17 trở vào và những người con đất Quảng từng hiến tuổi thanh xuân cho cuộc kháng chiến chống Pháp đành phải lìa bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, theo đơn vị vào Quy Nhơn, xuống chiếc tàu Ba Lan đang đợi sẵn. Nhiều người ra đi khi vừa lập gia đình, để lại những người vợ trẻ, có người mang bào thai trong bụng.

Nhà ngoại tôi năm người ra đi trên những chuyến tàu năm ấy: ông ngoại, hai người con trai và hai người con rể. Mới một tháng trước đó, nhà ngoại rộn rã với đám cưới của dì Bảy. Dượng Bảy người Tam Kỳ, mồ côi cả cha mẹ, đi bộ đội, đóng quân ở làng tôi, thầm yêu dì, rồi đơn vị đứng ra làm lễ cưới. Chỉ một tháng sau là đơn vị chuyển đi, đôi người đôi ngả.

Ra miền Bắc rồi vào lại miền Nam chiến đấu, dượng Bảy vẫn tìm cách liên lạc với gia đình. Thỉnh thoảng một lá thư gói trong bọc ni lông bé tí chuyển đến nhà tôi giữa đêm khuya mang theo tin tức của dượng như một niềm hi vọng đáp lại nỗi trông chờ mòn mỏi của dì. Năm dượng đi, dì tròn 20 tuổi. Suốt 20 năm sau đó, có những người ngỏ ý, dạm hỏi, dì vẫn không lung lạc, với niềm tin sẽ có ngày dượng trở về. Gần cuối cuộc chiến tranh, tin tức của dượng về nhà thường xuyên hơn. Hình như lời cầu nguyện của dì linh ứng để dượng tránh hòn tên mũi đạn nơi chiến trường.

Nhà tôi gần đường số 1. Mỗi ngày, sau khi đi làm đồng trở về, dì tôi thường ngồi trên bộ phản gõ ngoài hiên nhìn ra con ngõ, nơi ngày xưa dượng cùng những người đồng đội lần đầu đến nhà tôi xin chỗ trú quân. Tháng 4 năm 1975, những đoàn xe Mô-lô-tô-va (Molotova) nối tiếp nhau chạy ngang trước nhà tôi để chuyển quân vào mặt trận phía Nam. Dượng tôi ở trên một chuyến xe đó. 20 năm, dượng không quên người xưa nhưng đã quên cảnh cũ. Khi đến địa phận huyện Mộ Đức, dượng đảo mắt tìm xóm nhà quê vợ những không nhận ra vì cảnh vật đổi thay. Đến khi dừng lại hỏi nhà, thì xe đã chạy vượt qua gần năm cây số. Trên đường tiến quân, đâu thể quay xe trở lại, dượng chỉ kịp nhờ một người đi đường báo tin cho gia đình và gửi tặng dì tôi một chiếc nón bài thơ mua được trên đường hành quân.

Những ngày sau đó, gia đình tôi nao nức trong niềm vui chờ đợi. Ông ngoại tôi mất sớm trên miền Bắc, ba tôi hi sinh trên chiến trường đã tám năm, nỗi đau dần nguôi ngoai. Nhà có năm người ra đi, ba người trở về, cũng còn là may mắn. Dì Bảy tôi lại ngồi trước hiên nhà mỏi mắt nhìn ra đường cái. Nhưng hai cậu tôi lần lượt trở về mà dượng Bảy vẫn không tin tức. Những chiếc xe chở bộ đội hồi hương chạy qua không dừng lại. Gia đình dò hỏi các nơi, mãi đến cuối năm 1975 mới nhận giấy báo tử: dượng ngã xuống trong trận đánh ở Xuân Lộc, cửa ngõ phía đông bắc Sài Gòn, chỉ mươi ngày trước khi chiến tranh ngưng tiếng súng.

Như trong một câu chuyện cổ, người kị sĩ ra đi trên lưng chiến mã, nhưng ngày chiến thắng chỉ có chiến mã trở về mà không có bóng dáng người trên lưng ngựa. Dì tôi nén nỗi đau vào bên trong. Nhà tôi lập bàn thờ cho dượng. Tôi đã nhờ người về tận xã Tam Thanh, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tìm gia đình dượng, nhưng không ai còn nhớ tên người lính cũ Nguyễn Ngọc Linh. Gần đây dò tìm danh sách liệt sĩ trên mạng, cũng không có thông tin gì để tìm mộ phần của dượng.

Ngày hòa bình, dì tôi đã qua tuổi 40. Vẫn có người đàn ông để ý đến dì, nhưng lòng dì không còn rung động. Bà ngoại tôi ngày một già yếu. Những người con trai của bà về thăm ít ngày rồi lại đi ra thành phố. Những người con gái theo chồng, theo con. Chỉ còn mình dì Bảy ở lại chăm sóc bà, trông coi nhà thờ giữa khu vườn ít bàn tay vun xới.

Bà ngoại mất, mấy năm trước, dì vào Thành phố Hồ Chí Minh sống với em, nhưng được ít lâu, nhớ quê, lại về sống một mình trong ngôi nhà cũ. Dì lại tiếp tục những bữa cơm vắng lặng như mấy mươi năm trước. Và mỗi buổi chiều muộn, dì lại ra ngồi trước hiên nhà nhìn con đường kéo dài như nỗi chờ mong trong vô vọng. Đêm đêm, ngọn đèn dầu trên gian thờ lập lòe theo tiếng kêu của thạch sùng, có cảm giác như thời gian ngưng đọng đã từ lâu lắm. Mỗi lần về thăm, ngồi bên mâm cơm đạm bạc với dì, tôi chợt nghĩ nếu ngày đó dì đi bước nữa, thì liệu bây giờ dì có được hưởng hạnh phúc hay không. […]

Mùa lụt năm ngoái, sau những trận mưa dữ dội, vùng quê tôi nước tràn trắng trời trắng đất. Nhà ngoại tôi nước ngập ngang cửa sổ, gần bằng trận lụt năm Giáp Thìn (1964). Nhớ hồi đó, tôi còn nhỏ, nhà tôi đông người, thôn xóm cho ghe đến tận nhà chuyển người và gia súc lên vùng đồi cao. Lần này, chỉ có dì Bảy với người cháu gái, nửa đêm nước dâng vào nhà bất thần, may có vài người bà con ở gần đến giúp đỡ kê bàn ghế để chỗ nằm cao hơn mặt nước, chờ đất trời thu nước xuống.

Mùa lũ dữ rồi cũng qua, vườn rau xanh trở lại. Những ngày này, dì tôi, bà Lê Thị Thỏa, một trong bao người phụ nữ bình dị đã đi qua chiến tranh, năm nay tròn 80 tuổi, đang ngồi một mình đợi Tết ở ngôi nhà gần cầu Vĩnh Phú thuộc thị trấn Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Nguyện cầu hồn thiêng những người đã ngã xuống độ trì cho dì bình an, trường thọ.

 


 

1. Chuẩn bị

Yêu cầu (trang 58 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Xem lại khái niệm tản văn ở phần Kiến thức ngữ văn để vận dụng vào đọc hiểu văn bản này.

– Khi đọc tản văn, các em cần chú ý

+ Bài tản văn viết về ai, về sự việc gì (đề tài)?

+ Tác giả sử dụng phương thức biểu đạt nào?

+ Vấn đề tác giả nêu lên có ý nghĩa xã hội như thế nào?

+ Những yếu tố nào bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩ của tác giả

– Đọc trước văn bản Người ngồi đợi trước hiên nhà, tìm hiểu thêm về tác giả Huỳnh Như Phương.

– Tìm hiểu những hi sinh, mất mát của nhân dân ta trong thời kì chống Mỹ cứu nước.

Trả lời:

– Khi đọc tản văn, các em cần chú ý

+ Bài tản văn viết về dì Bảy (Lê Thị Thỏa)

+ Tác giả sử dụng phương thức biểu đạt tự sự + biểu cảm

+ Vấn đề tác giả nêu lên là vấn đề xuất hiện rất nhiều trong xã hội vào những năm tháng chiến tranh, những người phụ nữ phải chịu cảnh chia li người chồng thân yêu của mình.

– Đọc trước văn bản Người ngồi đợi trước hiên nhà, tìm hiểu thêm về tác giả Huỳnh Như Phương.

 

+ Huỳnh Như Phương sinh năm 1955, quê quán ở Quang Ngãi

+ GS Huỳnh Như Phương là nhà giáo chuyên giảng dạy lý thuyết văn học ở Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM, đồng thời là nhà nghiên cứu, phê bình văn học trước năm 1975.

+ Lúc chưa tới tuổi 20, Huỳnh Như Phương đã có bài đăng trên các tạp chí có khuynh hướng thiên tả lúc đó như Trình Bầy, Đối Diện.

– Tìm hiểu những hi sinh, mất mát của nhân dân ta trong thời kì chống Mỹ cứu nước.

+ Chiến tranh đã đẩy những gia đình vào cảnh li tán, mẹ xa con, vợ xa chồng, con cái phải xa bố.

+ Bom đạn chiến tranh còn cướp đi những người đàn ông mà đáng ra họ chính là những người trụ cột trong gia đình, để lại gánh nặng lên đôi vai những người phụ nữ.

2. Đọc hiểu

* Nội dung chính: 

Bài tản văn kể về số phận bất hạnh của dì Bảy có chồng đi tập kết ra Bắc. Vợ chồng dì Bảy mới lấy nhau vỏn vẹn có một tháng. Dì kiên nhẫn chờ chồng mình suốt 20 năm trời đến ngay cả khi dì biết chồng mình đã bỏ mạng ở chiến trường dì vẫn một lòng chung thủy không hề rung động trước bất kì ai.

 

* Trả lời câu hỏi giữa bài: 

Câu 1 (trang 58 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Tranh minh họa và nhan đề văn bản có mối liên hệ gì?

Trả lời:

– Tranh minh họa và nhan đề có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau, đều nhằm biểu đạt nội dung văn bản là người phụ chờ đợi chồng.

Câu 2 (trang 59 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Chú ý hoàn cảnh chia tay của nhân vật dượng Bảy.

Trả lời:

– Dì Bảy và Dượng Bảy mới lấy nhau được 1 tháng thì Dượng Bảy đã phải tập quân ra Bắc → Hạnh phúc chưa được bao lâu đã phải chia tay, từ biệt.

Câu 3 (trang 59 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Chú ý ngôi kể của văn bản

Trả lời:

– Văn bản được kể theo ngôi thứ 3 → Giúp câu chuyện chân thật, khách quan hơn.

Câu 4 (trang 59 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Vì sao dì Bảy biết dượng Bảy vẫn còn sống?

Trả lời:

– Dượng Bảy vẫn tìm cách liên lạc với gia đình qua những bức thư gói trong bọc ni-lông

– Gần cuối cuộc chiến tranh tin tức của dượng về nhà thường xuyên hơn.

– Dượng nhờ người đi đường báo tin cho gia đình và gửi tặng dì tôi chiếc nón bài thơ.

Câu 5 (trang 60 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Chú ý hoàn cảnh hi sinh của dượng Bảy

Trả lời:

– Dượng ngã xuống trong trận đánh ở Xuân Lộc, cửa ngõ phía Đông Bắc Sài Gòn, chỉ mươi ngày trước khi chiến tranh ngưng tiếng súng

Câu 6 (trang 60 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Qua lời văn, hình dung giọng kể của tác giả.

Trả lời:

– Giọng kể của tác giả đầy thương xót, cảm phục về người dì của mình

Câu 7 (trang 60 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Trước hoàn cảnh của dì Bảy, tác giả có suy nghĩ gì?

Trả lời:

– Trước hoàn cảnh cô đơn, một mình của dì Bảy tác giả thấy thương dì vô cùng, căn nhà thiếu đi bàn tay của người đàn ông trụ cột lúc gặp ngày mưa bão cũng chẳng biết trông vào đâu. Tác giả tự hỏi rằng liệu ngày ấy dì quyết đi bước nữa thì giờ đây liệu dì có hạnh phúc hơn không.

Câu 8 (trang 61 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Việc nhắc tên thật của dì Bảy ở đây có tác dụng gì?

Trả lời:

– Việc nhắc tên thật của dì Bảy ở đây có tác dụng nhấn mạnh rằng đây là câu chuyện có thật, hiện hữu trong cuộc sống hằng ngày.

– Như một lời khẳng định chiến tranh không chỉ cướp đi những người lính mà còn để lại sự cô đơn, lẻ loi của biết bao con người ở lại.

* Trả lời câu hỏi cuối bài: 

Câu 1 (trang 61 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Bài tản văn Người ngồi đợi trước hiên nhà viết về ai, về việc gì?

Trả lời:

– Bài tản văn Người ngồi đợi trước hiên nhà viết về dì Bảy.

– Viết về hoàn cảnh của dì Bảy khi có chồng tham gia chiến tranh và bỏ mạng ở nơi chiến trường bom đạn ấy.

Câu 2 (trang 61 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Sắp xếp các sự kiện chính sau đây theo trật tự như tác giả đã kể trong văn bản:

a. Dượng Bảy ngã xuống trong trận đánh ở Xuân Lộc, trên đường tiến vào Sài Gòn.

b. Dì Bảy năm nay tròn 80 tuổi, đang ngồi một mình đợi Tết

c. Dượng Bảy cùng nhiều người con đất Quảng lên đường ra Bắc tập kết

d. Ngày hòa bình, dì tôi đã qua tuổi 40. Vẫn có người đàn ông để ý dì, nhưng lòng dì không còn rung động.

e. Ra miền Bắc rồi lại vào miền Nam chiến đấu, dượng Bảy vẫn liên lạc với gia đình.

Trả lời:

c. Dượng Bảy cùng nhiều người con đất Quảng lên đường ra Bắc tập kết

e. Ra miền Bắc rồi lại vào miền Nam chiến đấu, dượng Bảy vẫn liên lạc với gia đình.

a. Dượng Bảy ngã xuống trong trận đánh ở Xuân Lộc, trên đường tiến vào Sài Gòn.

d. Ngày hòa bình, dì tôi đã qua tuổi 40. Vẫn có người đàn ông để ý dì, nhưng lòng dì không còn rung động.

b. Dì Bảy năm nay tròn 80 tuổi, đang ngồi một mình đợi Tết

Câu 3 (trang 61 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Trong bài tản văn Người ngồi đợi trước hiên nhà, tác giả đã kết hợp phương thức tự sự với phương thức nào? Chỉ ta tác dụng của việc kết hợp đó

Trả lời:

– Trong bài tản văn Người ngồi đợi trước hiên nhà, tác giả đã kết hợp phương thức tự sự với phương thức biểu cảm

– Tác dụng: Nhằm bộc lộ tình cảm, suy nghĩa của tác giả với câu chuyện được kể

Câu 4 (trang 61 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Tìm và phân tích một số câu hoặc đoạn văn trực tiếp bộc lộ tình cảm, suy nghĩ của tác giả.

Trả lời:

– “Mỗi lần về thăm, ngồi bên mâm cơm đạm bạc với dì, tôi chợt nghĩ nếu ngày đó dì đi bước nữa thì liệu bây giờ dì có được hưởng hạnh phúc không.”

– “Những ngày này, dì tôi, bà Lê Thị Thỏa, một trong bao người phụ nữ bình dị đã đi qua chiến tranh, năm nay tròn 80 tuổi, đang ngồi một mình đợi Tết ở ngôi nhà gần cầu Vĩnh Phú thuộc thị trấn Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Nguyện cầu hồn thiêng những người đã ngã xuống độ trì cho dì bình an, trường thọ.”

→ Câu văn thể hiện sự xót thương vô cùng của nhân vật “tôi” khi chứng kiến cuộc sống cô đơn, lẻ lỏi của dì Bảy, cả cuộc đời của dì là sự chờ đợi trong khắc khoải, hi vọng bồn chồn.

Câu 5 (trang 61 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Bài tản văn cho người đọc thấy sự hi sinh thầm lặng mà lớn lao của những người phụ nữ trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Vấn đề ấy gợi cho em suy nghĩ gì khi sống trong hòa bình?

Trả lời:

Bài tản văn Người ngồi đợi trước hiên nhà kể về sự hi sinh thầm lặng mà cao cả của những người phụ nữ trong chiến tranh. Họ âm thầm chịu đựng, thủy chung tình nghĩa, họ góp phần rất lớn vào sự nghiệp độc lập của dân tộc. Chúng em những người may mắn khi được sinh ra khi nước nhà được độc lập, khi được sống trong sự đủ đầy hạnh phúc, sẽ luôn biết ơn công lao của những người mẹ, người vợ Việt Nam anh hùng. Chúng em, thế hệ tương lai sẽ dốc sức luyện rèn, học tập để góp phần xây dựng và phát triển đất nước xứng đáng với những công lao mà lớp người đi trước đã gây dựng.

Câu 6 (trang 61 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Có người nói: Dì bảy trong bài tản văn giống như hình tượng hòn Vọng Phu ở các câu chuyện cổ. Ý kiến của em như thế nào?

Trả lời:

– Dì Bảy trong bài tản văn giống hình tượng hòn Vọng Phu vì ở dì là sự hi sinh, chờ đợi, thương yêu người chồng nơi chiến trận của mình. Dù biết chồng đã hi sinh dì vẫn ôm ấp lấy quá khứ ấy. Ở dì là sự hi sinh cao cả thầm lặng, đại diện của những người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh

 

 

Soạn văn lớp 7 Tập 2

 

 

 

 

Người ngồi đợi trước hiên nhà – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều

Người ngồi đợi trước hiên nhà – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều