Người mẹ vườn cau – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều

Người mẹ vườn cau – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều

Người mẹ vườn cau – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều

 

NGƯỜI MẸ VƯỜN CAU

(Nguyễn Ngọc Tư)

Đề bài làm văn chỉ hai chữ “Người mẹ”. Cô Hương bảo: “Bình luận, chứng minh, hay miêu tả cách nào cũng được.”. Tôi cắn bút, nghĩ mãi bắt đầu như thế nào nhỉ?

Ba tôi có rất nhiều mẹ, tôi cũng có lắm bà. Nội ở nhà cùng chú út, nội ở Phố Đông, nội ở vườn cau, nội nào cũng già như nhau. Tôi nhớ khi còn nhỏ, ba dẫn về thăm nội vườn cau. Hôm đó, mưa nhiều, con đường từ dưới bến lên nhà, đất bùn lẹp nhẹp, tôi ngã oành oạch. Nhà nội nhỏ xíu, mái lá dột tong tong. Đón ba, nội gầy gò, cười phô cả lợi:

– Má tưởng con không về được, mưa gió tối trời vầy khéo cảm.

Bà vuốt đầu tôi:

– Tiên tổ mầy, sao mà giống cha quá vậy?

Hôm ấy, bà giỗ chú Sơn. Trên cái bàn thờ con con thấp lè tè kia có đến ba chiếc lư đồng, cái nào cũng nghi ngút khói. Bữa giỗ chỉ vài ba bát canh chua cá rô đồng, mắm kho bông súng. Chưa bao giờ tôi được ăn lại nghe ngon như thế. Ba gắp thức ăn cho bà, bà gắp thức ăn cho tôi, đôn hậu bảo:

– Ăn cho mau lớn, con.

Tạnh mưa, mọi người lục đục đến, họ kéo gàu) xối ào ào ngoài hiên nước. Ai cũng gọi nội bằng má, “má Tư”. “Má Tư” ơi ới. Tôi hỏi:

– Ba ơi, sao nội đông con quá vậy?

Ba cười bảo:

– Tối, ba kể con nghe.

Một chú quần vo tới gối, tay cầm lồng vỗ vai ba cười ha hả:

– Tạo biết chú mầy về nên đem thịt rắn qua đây, tụi mình lai rai

Rồi chú quay lại:

– Má ơi, cho tụi con vui một bữa với thằng Sơn nghen.

Bà nội quấn lại cái khăn sờn lên tóc:

– Rồi vợ mầy chạy lại méc má cho mầy coi.

Nội ôm tôi vào lòng, ngồi trên võng bố đưa kèn kẹt. Các chú thỉnh thoảng lại cười vang. Nội cũng cười, trông nội vui lắm, cái vui như thức dậy sau đêm dài vươn mình ngắm bình minh. Ba tôi cùng các chú nói chuyện huyên thuyên, toàn là chuyện ngày xưa.

Chú Biểu quần vo tới gối, uống rượu tòn tọt, cười khà:

– Tưởng đâu lũ mầy quên má, quên hết tụi tạo.

Ba tôi lúc lắc đầu, ông rót ba li rượu cúng trên bàn thờ, quay lại hỏi:

– Bát hương em Châu, bên chồng rước về hở má?

– Ừ, bên nhà sui bảo, cho chúng nó có đôi.

Bà nội dẫn tôi ra vườn, cái nắng sau mưa nồng ngả vàng pha sắc đỏ, những giọt nước còn đọng lại trên tán lá non. Ở đây cái gì cũng chín, từ trái mít, trái đu đủ, trái chanh, đến cả buồng cau. Trái chín đỏ lừ bên hông cau trắng muốt, tóc nội cũng trắng phau phau. Bà nắm tay tôi, bàn tay bà nhăn nheo, gân guốc. Đêm hôm ấy bà mắc mùng cho tôi ngủ, giường lạ ngủ không được. Ba kể hồi trước, ba cùng hai chú ở trên bàn thờ là đồng chí của nhau, các chú ấy hiên ngang và anh dũng lắm, ba bảo nội là một bà mẹ anh hùng. Tôi hơi bất ngờ, lẽ ra anh hùng phải là cao to, đẹp khỏe chứ!

– Vậy nội có súng không ba?

– Nội bán ve chai

– Bán ve chai cũng là anh hùng hở bà?

– Ừ, nội gánh giỏ đi đầu làng cuối xóm. Nội đưa thư cho ba. Nội mang thức ăn, tin tức.

Ba vuốt đầu tôi, cái tay nặng trịch:

– Giá mà các chú ấy còn sống, bây giờ nội đã có cháu, đâu phải sống một mình.

Tôi nghe gai gai người, nhớ cái dáng còm cõi, nụ cười phúc hậu, đôi mắt già nua nheo nheo. Trông ra ngoài, thấy bóng còng còn in trên vách, tôi nhổm dậy, “con ra ngủ với bà nghe ba”.

Ba tôi chuyển công tác lên tỉnh, nhà tôi dọn về phố khác. Mẹ nhắc ba:

– Lâu rồi, anh không về thăm má “vườn cau”.

– Ôi dào, má ở dưới, mấy anh dưới lo.

Một hôm, chú Biểu đến nhà, chú mang theo xâu ếch dài thiệt dài, bỗ bã:

– Cái này má gổi cho mầy, má biểu phải đem đến tận nhà. mấy giỗ mầy không về, má nhớ mầy lắm. Sáng hôm qua, má còn khoe vừa gặp mầy trên vô tuyến.

Rồi chú lắc đầu:

– Lũ mầy bạc làm sao đâu.

Tối đó mưa xập xoài rả rích, ba tôi chong đèn ngồi rít thuốc, mẹ hỏi, ba bảo: “Uống rượu, ngủ không được”.

Món thịt ếch đầu mùa lịm trong lưỡi làm ba đau nhói. Ba rủ tôi:

– Mai về nội “vườn cau”, con ha?

Chẳng biết chốn ấy còn chín lừ quả ngọt, hương cau còn nồng nàn trắng xóa một góc trời, tóc nội chắc bạc nhiều hơn. Lúc tôi về, thế nào bà cxung dúi cho tôi nhiều quả chín mang về biếu mẹ, xâu ếch biếu ba. Thứ thức ăn mà không có hương vị cao lương nào thay thế được, dù bây giờ ba tôi xuống ngựa lên xe.

Bài văn được 4 điểm, lời phê cũng ngắn gọn như đề bài, “nghèo ý”, tôi viết: “Mẹ là người sinh ra em, nuôi em lớn, ngày thường mẹ nấu cơm em ăn, giặt đồ em mặc”. Bọn con Hải, Lam chọc ghẹo mãi, tôi chống chế: “Làm sao viết về mẹ bằng mấy dòng được, phải không?”.

 


 

 

I. Tác giả văn bản Người mẹ vườn cau

– Nguyễn Ngọc Tư, sinh năm 1976

– Quê quán: Cà Mau

– Sáng tác thành công ở nhiều thể loại: truyện ngắn, tản văn, tiểu thuyết, …

– Văn của Nguyễn Ngọc Tư trong sáng, mộc mạc, thể hiện một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, giàu yêu thương.

– Tác phẩm tiêu biểu: Cánh đồng bất tận, Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (2005), Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (2005), Không ai qua sông (2016), Biên sử nước (2020), …

 

II. Tìm hiểu tác phẩm Người mẹ vườn cau

1. Thể loại: 

Người mẹ vườn cau thuộc thể loại truyện ngắn.

2. Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác: 

Trích trong “Xa xóm Mũi”, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2016.

3. Phương thức biểu đạt: 

Văn bản Người mẹ vườn cau có phương thức biểu đạt là Tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm.

4. Người kể chuyện:

Văn bản Người mẹ vườn cau được kể theo ngôi thứ nhất, người kể xưng tôi.

5. Tóm tắt văn bản Người mẹ vườn cau: 

Người mẹ vườn cau của tác giả Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu bối cảnh bằng nhân vật “tôi” được cô giáo giao cho bài văn về mẹ. Với đề bài như vậy, nhưng nhân vật tôi lại không biết phải làm như thế nào. Sau đó là những chuỗi hồi tưởng về kỉ niệm hồi nhỏ, kỉ niệm cùng người bà. Các hình ảnh về con đường về nhà bà, ngôi nhà, ngoại hình của bà, khung cảnh bữa cơm giỗ chú, được bà dắt đi dạo trong vườn hoa quả. Một loạt hồi tưởng như vậy, nhân vật quay lại thực tại với bài văn điểm kém của mình, tuy vậy nhân vật không hề buồn mà vẫn vui vẻ.

6. Bố cục bài Người mẹ vườn cau: 

Người mẹ vườn cau có bố cục gồm 3 phần:

+ Phần 1 (Từ đầu đến ngủ với bà nghe ba): Hoàn cảnh của người mẹ vườn cau.

 

 

+ Phần 2 (Tiếp đến ba tôi chuyển công tác lên tỉnh): Tình cảm của người mje vườn cau.

+ Phần 3 (Còn lại): Ý nghĩa, giá trị, công lao của mẹ.

7. Giá trị nội dung: 

Truyện nói về kí ức của tác giả về người bà nội – một người mẹ anh hùng giàu đức hy sinh và đáng thương. Qua đó, gửi gắm đến người đọc thông điệp về sự biết ơn và kính trọng những người đã hi sinh vì lí tưởng cách mạng, vì nền hòa bình độc lập và những người mẹ anh hùng.

8. Giá trị nghệ thuật: 

– Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, đậm chất Nam Bộ.

– Cốt truyện gần gũi, dễ dàng truyền tải nội dung.

– Ngôn từ mộc mạc, giản dị nhưng giàu cảm xúc.

 

III. Tìm hiểu chi tiết tác phẩm Người mẹ vườn cau

1. Nguyên nhân dẫn đến câu chuyện “Người mẹ vườn cau”:

 

– Cô giáo yêu cầu viết bài văn về mẹ, tuy nhiên “tôi” không biết viết như nào.

– Nhớ lại rằng ba có nhiều mẹ và mình có nhiều bà nội, trong đó, ba có một “người mẹ vườn cau”.

→ Cách dẫn dắt gần gũi.

2. Những kỉ niệm thời nhỏ tại quê của “Người mẹ vườn cau”:

* Khung cảnh:

– Con đường đến nhà bà là con đường đất, những khi trời mưa đường bùn ướt nhẹp. Nhà Nội là nhà mái lá nhỏ xíu.

* Hình ảnh “nội vườn cau”:

– Là một bà mẹ anh hùng.

– Làm nghề bán ve chai, đưa thư, măng thức ăn, tin tức,…

– Dáng còm cõi, nụ cười phúc hậu, đôi mắt già nua nheo nheo.

– Mái tóc trắng phau phau.

* Những kỉ niệm:

– Hôm ấy là giỗ chú Sơn. Bữa cơm giỗ chỉ vài ba bác canh chua cá rô đồng, mắm kho, bông súng đơn giản những vẫn rất ngon và ấm áp.

– Khi trời tạnh mưa, mọi người ào ào kéo đến làm nhân vât “tôi” phải thắc mắc rằng tại sao bà lại có nhiều con như thế.

– Các chú cùng bố nhậu một bữa nhưng vẫn phải xin phép bà. Mọi người vui vẻ nói chuyện ngày xưa.

– “Tôi” được Nội dẫn ra vườn cau và vườn hoa quả trĩu trái.

– Đêm hôm ấy được bà mắc mùng cho tôi ngủ và được nghe những câu chuyện bà kể khi khó ngủ.

3. Trở về thực tại và bài làm văn điểm kém.

– Do ba chuyển công tác nên gia đình cũng chuyển lên phố.

– Mẹ nhắc chuyện lâu chưa về thăm nội nhưng bố không lo. Chỉ khi chú Biểu đến nhà, nghe câu chú nói mình bạc, bố mới thấy nằm suy nghĩ và quyết định mai về lại “Người mẹ vườn cau”.

– Đó là những kỉ niệm về mẹ vườn cau của bố còn với mẹ của “tôi” thì chỉ “Mẹ là người sinh ra em, nuôi em lớn, ngày thường mẹ nấu cơm em ăn, giặt đồ em mặc”.

– Bài văn tuy 4 điểm nhưng “tôi” cũng không hề buồn vì tả về mẹ đâu chỉ bằng vài câu.


 

Soạn bài Người mẹ vườn cau – Cánh diều

 

 

1. Chuẩn bị

Yêu cầu (trang 25 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1):

– Đọc trước văn bản Người mẹ vườn cau, tìm hiểu thêm thông tin về nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.

– Hãy nhớ lại một tác phẩm viết về người mẹ, người bà có chủ đề để gần với văn bản này để giới thiệu với các bạn.

Trả lời:

– Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư: (sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau)

+ Cô là một nhà văn, thành viên Hội nhà văn Việt Nam. Năm 2018, cô được trao Giải thưởng Văn học Liberaturpreis 2018 do Litprom (Hiệp hội quảng bá văn học châu Á, châu Phi, Mỹ Latin ở Đức) bình chọn, dựa trên việc xem xét các bản dịch tiếng Đức tác phẩm nổi bật của các tác giả nữ đương đại tiêu biểu trong khu vực. Giải thưởng được trao hàng năm nhằm vinh danh các tác giả nữ đến từ châu Á, Phi, Mỹ Latin, Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) và vùng Caribe.

+ Cô âm thầm đến với Văn học và thật sự tỏa sáng sau khi nhận giải Nhất của cuộc thi Văn học tuổi 20 của Nhà xuất bản trẻ. Nguyễn Ngọc Tư được biết đến với tập truyện mang tên Cánh đồng bất tận. Tập truyện nhận giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2006 và truyện ngắn cùng tên đã được chuyển thể thành phim điện ảnh năm 2010.

+ Một số tác phẩm tiêu biểu: Cánh đồng bất tận, Giao thừa, Biển người mênh mông, Cái nhìn khắc khoải, Ngọn đèn không tắt, Yêu người ngóng núi, Gáy người thì lạnh, Khói trời lộng lẫy, Biển của mỗi người,…

– Tác phẩm viết về người mẹ, người bà có chủ đề để gần với văn bản này: tác phẩm Trong lòng mẹ (Nguyên Hồng), đoạn trích kể lại một cách chân thực và cảm động những cay đắng và tủi cực cùng tình yêu thương cháy bỏng của nhà văn thời thơ ấu đối với người mẹ bất hạnh, đáng thương của mình.

 

 

2. Đọc hiểu

* Nội dung chính: Văn bản nói về kí ức của tác giả về người bà nội – một người mẹ anh hùng giàu đức hy sinh và đáng thương. Qua đó, gửi gắm đến người đọc thông điệp về sự biết ơn và kính trọng những người đã hi sinh vì lí tưởng cách mạng, vì nền hòa bình độc lập và những người mẹ anh hùng.

 

* Trả lời câu hỏi giữa bài:

Câu 1 (trang 26 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Chú ý tình huống khơi gợi cho nhân vật “tôi” về hình ảnh “người mẹ vườn cau”.

Trả lời:

– Tình huống khơi gợi cho nhân vật “tôi” về hình ảnh “người mẹ vườn cau”: cô giáo giao đề bài làm văn về “người mẹ”.

Câu 2 (trang 26 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Nhận biết các từ là trợ từ, thán từ trong văn bản.

Trả lời:

– Trợ từ: cả, đến, chỉ

– Thán từ: tiên tổ mầy, nghen, hở, ừ

Câu 3 (trang 28 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Chú ý những lời thoại tái hiện hoàn cảnh của “người mẹ vườn cau”.

Trả lời:

– Những lời thoại tái hiện hoàn cảnh của “người mẹ vườn cau”: là lời của ba và nhân vật “tôi” khi nói về “bà mẹ anh hùng”.

Câu 4 (trang 28 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Chú ý lời thoại của nhân vật chú Biểu.

Trả lời:

– Lời thoại của nhân vật chú Biểu: gần gũi, chứa đầy tình cảm khi nói về má nhưng cũng không quên trách người em không dành thời gian quan tâm má.

Câu 5 (trang 29 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Phần (3) đã gợi mở những vấn đề gì?

Trả lời:

– Phần (3) đã gợi mở ra bài học về sự biết ơn, kính trọng đến những người mẹ. Những điều về người mẹ dù có nói bao nhiêu cũng không nói hết được sự hi sinh thầm lặng, yêu thương quan tâm, chăm sóc và luôn dành mọi điều tốt đẹp nhất cho chúng ta.

* Trả lời câu hỏi cuối bài:

Câu 1 (trang 29 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Truyện ngắn trên viết về đề tài gì? Giải thích nhan đề Người mẹ vườn cau.

Trả lời:

– Truyện ngắn trên viết về đề tài: thể hiện sự biết ơn và kính trọng trong cuộc sống.

– Nhan đề Người mẹ vườn cau: ngắn gọn, đầy súc tích khi nói về hình ảnh người mẹ già ở nơi quê nhà có những đứa con hiên ngang, anh dũng đã ra đi bảo vệ Tổ quốc.

Câu 2 (trang 29 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Theo em, chủ đề của truyện ngắn Người mẹ vườn cau là gì?

Trả lời:

– Theo em, chủ đề của truyện ngắn Người mẹ vườn cau nói về những con người giàu đức hi sinh, anh dũng vì lí tưởng cách mạng lớn lao, đánh đổi lại một nền hòa bình cho Tổ quốc ta.

Câu 3 (trang 29 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Truyện được kể theo ngôi thứ mấy? Ngôi kể ấy có tác dụng như thế nào?

Trả lời:

– Truyện được kể theo ngôi kể thứ nhất, nhân vật xưng “tôi”.

– Tác dụng: thể hiện được những cảm xúc, cách nhìn cùng tiếng nói nội tâm của nhân vật tôi khi bày tỏ nỗi niềm về người bà của mình.

Câu 4 (trang 29 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Cốt truyện của văn bản Người mẹ vườn cau có gì đáng chú ý?

Trả lời:

Cốt truyện của văn bản Người mẹ vườn cau được xây dựng gần gũi, dễ dàng truyền tải nội dung đến các độc giả về hình ảnh người bà thông qua các chi tiết miêu tả, cuộc đối thoại của các nhân vật trong văn bản. Qua đó, văn bản đã khắc họa được tâm tư, tình cảm của nhân vật “tôi” dành cho người ba của mình.

Câu 5 (trang 29 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Hình ảnh “người mẹ vườn cau” đã được tái hiện với những chi tiết tiêu biểu nào? Em ấn tượng với chi tiết nào nhất? Vì sao?

Trả lời:

– Hình ảnh “người mẹ vườn cau” đã được tái hiện với những chi tiết tiêu biểu:

+ Ba kể hồi trước, ba cùng hai chú ở trên bàn thờ là đồng chí của nhau, các chú ấy hiên ngang và anh dũng lắm, ba bảo bà nội là một bà mẹ anh hùng.

+ Nội bán ve chai

+ Nội gánh giỏ đi đầu làng cuối xóm. Nội đưa thư cho ba. Nội mang thức ăn, tin tức.

+ Giá mà các chú ấy còn sống, bây giờ nội đã có cháu, đâu phải sống một mình.

+ Tôi nghe gai gai người, nhớ cái dáng còm cõi, nụ cười phúc hậu, đôi mắt già nua nheo nheo.

– Em ấn tượng với chi tiết khi người ba nói rằng bà nội là một bà mẹ anh hùng. Nhắc tới đây, em vô cùng xúc động và càng biết ơn về sự hi sinh thầm lặng đó. Bà là hậu phương vững chắc cho những đứa con của mình đi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Và khái niệm về anh hùng đã không còn dập khuôn như suy nghĩ ban đầu của nhân vật “tôi”. Qua đó, em càng thấy biết ơn và trân trọng cuộc sống này hơn vì những con người thế hệ trước đã anh dũng, sẵn sàng đánh đổi tất cả để đem lại hòa bình đất nước cho ngày hôm nay.

Câu 6 (trang 29 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1): Có người cho rằng, qua truyện ngắn này, tác giả muốn gửi đến người đọc thông điệp về truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Ý kiến của em như thế nào? (Trình bày thành đoạn văn khoảng 8 – 10 dòng).

Trả lời:

Sau khi đọc xong truyện Người mẹ vườn cau, tác giả Nguyễn Ngọc Tư đã đem tới chúng ta thông điệp vô cùng sâu sắc và ý nghĩa về truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Nhờ có công lao to lớn của những thế hệ đi trước, không ngại gian khổ, hiểm nguy đến tính mạng, mà chúng ta có được cuộc sống như ngày hôm nay, một cuộc sống không có chiến tranh, bom đạn, đau thương và mất mát. Từ đó, văn bản dăn dạy chúng ta cần có lòng biết ơn đến những anh hùng đã hi sinh cho nền độc lập nước nhà, đồng thời cần tích cực rèn luyện bản thân để góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, vững chắc.

 

Mẫu 2 :

Qua văn bản “Người mẹ vườn cau”, tác giả Nguyễn Ngọc Tư muốn gửi gắm đến người đọc thông điệp về truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Lòng biết ơn đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của chúng ta. Thế kỉ XX, đất nước ta phải trải qua hai cuộc chiến lớn để lại nhiều mất mát, đau thương cho con người Việt Nam. Đã có rất nhiều người hy sinh mạng sống của mình cho độc lập dân tộc trong đó còn có những người mẹ gạt nước mắt tiễn con ra trận. Khi hoà bình lập lại, con người quá mải mê với cơm áo gạo tiền mà quên đi quá khứ thế nhưng quá khứ ấy vẫn luôn vẹn nguyên, thuỷ chung giống như hình ảnh người mẹ vườn cau ngày ngày chờ đợi những cựu chiến binh đến thăm bà lúc tuổi già. Văn bản cũng là lời cảnh tỉnh với những ai đã quên đi quá khứ, chúng ta cần phải biết ơn thế hệ trước đã cho ta cuộc sống như ngày hôm nay.

 

 

Giải bài tập Văn Học 8 – Cánh Diều

 

 

 

 

Người mẹ vườn cau – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều

Người mẹ vườn cau – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều

 

 

Người mẹ vườn cau – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều