Mây và sóng – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều

Mây và sóng – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều

Mây và sóng – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều

 

Mây và sóng

Mẹ ơi, trên mây có người gọi con:

“Bọn tớ chơi từ khi thức dậy cho đến lúc chiều tà. Bọn tớ chơi với bình minh vàng, bọn tớ chơi với vầng trăng bạc”.

Con hỏi: “Nhưng làm thế nào mình lên đó được?”.

Họ đáp: “Hãy đến nơi tận cùng trái đất, đưa tay lên trời, cậu sẽ được nhấc bổng lên tận tầng mây”.

“Mẹ mình đang đợi ở nhà” – con bảo – “Làm sao có thể rời mẹ mà đến được?”

Thế là họ mỉm cười bay đi.

Nhưng con biết có trò chơi thú vị hơn, mẹ ạ.

Con là mây và mẹ sẽ là trăng.

Hai bàn tay con ôm lấy mẹ, và mái nhà ta sẽ là bầu trời xanh thẳm.

Trong sóng có người gọi con:

“Bọn tớ ca hát từ sáng sớm cho đến hoàng hôn. Bọn tớ ngao du nơi này nơi nọ mà không biết từng đến nơi nao”.

Con hỏi: “Nhưng làm thế nào mình ra ngoài đó được?”.

Họ nói: “Hãy đến rìa biển cả, nhắm nghiền mắt lại, cậu sẽ được làn sóng nâng đi”.

Con bảo: “Buổi chiều mẹ luôn muốn mình ở nhà, làm sao có thể rời mẹ mà đi được?”.

Thế là họ mỉm cười, nhảy múa lướt qua.

Nhưng con biết trò chơi khác hay hơn.

Con là sóng và mẹ sẽ là bến bờ kì lạ,

Con lăn, lăn, lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan lòng mẹ.

Và không ai trên thế gian này biết mẹ con ta ở chốn nào.

 


 

Nội dung chính bài Mây và sóng – Cánh diều

 

“Mây và sóng” được viết bằng tiếng Ben-gan, in trong tập thơ Si-su (Trẻ thơ), xuất bản năm 1909 và được Ta-go dịch ra tiếng Anh, in trong tập Trăng non xuất bản năm 1915.

 

Bố cục Mây và sóng

Chia bài thơ làm 2 đoạn:

– Phần 1: (Từ đầu đến “xanh thẳm”): Cuộc trò chuyện của em bé với mây và mẹ

– Phần 2: (Còn lại): Cuộc trò chuyện của em bé với sóng và mẹ.

 

Tóm tắt Mây và sóng

Tóm tắt tác phẩm Mây và sóng – Mẫu 1

Với thể thơ 5 chữ, nhiều hình ảnh mang giàu chất trữ tình mang ý nghĩa biểu tượng và nghệ thuật đối lập, ẩn dụ, nhân hóa… Bài thơ “Mây và sóng” ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng sâu sắc đồng thời chứa đựng những triết lí giản dị nhưng đúng đắn về hạnh phúc trong cuộc đời.

Tóm tắt tác phẩm Mây và sóng – Mẫu 2

Bài thơ “Mây và sóng” của Ta-go đã ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt, hàm chứa một ý nghĩa nhân văn cao cả: chỉ cần có mẹ, có con, chúng ta sẽ sáng tạo ra cả một thế giới, cả một vũ trụ, thế giới ấy vừa hiện hữu vừa huyền bí mà chỉ có mẹ và con biết được.

 

Tác giả – tác phẩm: Mây và sóng

I. Tác giả văn bản Mây và sóng

 

– R. Ta-go (1861-1941) tên đầy đủ là Ra-bin-đra-nát Ta-go (Ra-bin-đra-nát nghĩa là Thần Thái Dương, dịch tên ông sang Tiếng Việt là Tạ Cơ Thái Dương)

– Quê quán: sinh tại Kolkata, Tây Bengal, Ấn Độ, trong 1 gia đình quý tộc

– Tuy tài năng nhưng số phận Ta-go gặp nhiều bất hạnh

– Sự nghiệp sáng tác:

+ Ta- go làm thơ từ rất sớm và cũng tham gia các hoạt động chính trị và xã hội

+ Năm 14 tuổi ông được đăng bài thơ “Tặng hội đền tín đồ Ấn Độ giáo”

+ Vào năm 1913, ông trở thanh người Châu Á đầu tiên được trao Giải Nobel Văn học với tập “Thơ dâng”

+ Ta-go đã để lại cho nhân loại gia tài văn hóa đồ sộ: 52 tập thơ, 42 vở kịch, 12 bộ tiểu thuyết, khoảng 100 truyện ngăn, trên 1500 bức họa và nhiều bút kí, luận văn…

+ Một số tác phẩm tiêu biểu: Tập thơ Người làm vườn, tập Trăng non, tập Thơ dâng…

– Phong cách sáng tác: Đối với văn xuôi, Ta-go đề cập đến các vấn đề xã hội, chính trị, giáo dục. Về thơ ca, những tác phẩm của ông thể hiện tinh thần dân tộc và dân chủ sâu sắc, tinh thần nhân văn cao cả và chất trữ tình triết lí nồng đượm; sử dụng thành công những hình ảnh thiên nhiên mang ý nghĩa tượng trưng, hình thức so sánh, liên tưởng vè thủ pháp trùng điệp

II. Tìm hiểu tác phẩm Mây và sóng

1. Thể loại: thơ tự do

2. Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác:

– “Mây và sóng” được viết bằng tiếng Ben-gan, in trong tập thơ Si-su (Trẻ thơ), xuất bản năm 1909 và được Ta-go dịch ra tiếng Anh, in trong tập Trăng non xuất bản năm 1915.

3. Phương thức biểu đạt: Tự sự +Biểu cảm

4. Tóm tắt: Bài thơ phác họa những trò chơi thú vị mà em bé tưởng tượng vui đùa với các bạn trên mây và các bạn trong sóng. Thế những người duy nhất em bé muốn chơi đó là mẹ của mình. Qua đây, ta thấy được tình cảm mẹ con sâu sắc, da diết.

 

5. Bố cục:

– Phần 1: (Từ đầu đến “xanh thẳm”): Cuộc trò chuyện của em bé với mây và mẹ

– Phần 2: (Còn lại): Cuộc trò chuyện của em bé với sóng và mẹ.

6. Giá trị nội dung:

– Thông qua cuộc trò chuyện của em bé với mẹ, bài thơ Mây và sóng của Ta-go ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng sâu sắc

– Bài thơ chứa đựng những triết lí giản dị nhưng đúng đắn về hạnh phúc trong cuộc đời

7. Giá trị nghệ thuật:

– Sử dụng hình ảnh mang giàu chất trữ tình mang ý nghĩa biểu tượng

– Kết cấu bài thơ như một câu chuyện kể tạo ấn tượng thú vị với hình thức đối thoại lồng trong lời kể của em bé

– Nghệ thuật đối lập, ẩn dụ, nhân hóa….

 


 

  1. Chuẩn bị

Hiển thị nội dung

Yêu cầu (trang 23 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2):

– Đọc trước bài thơ Mây và sóng, tìm hiểu thêm về nhà thơ Ra-bin-đra-nát Ta-go (Rabindranath Tagore).

– Nhớ lại những trò chơi với mẹ hoặc người thân trong gia đình khi em còn nhỏ và chia sẻ với bạn bè về cảm xúc của mình khi chơi những trò chơi đó.

Trả lời: 

– Nhà thơ Ta-go: Ta-go (1861-1941) là đại thi hào của Ấn Độ. Năm 1913, Ta-go được giải Nô-ben về văn chương với tập thơ “Thơ Dâng”. Ông là nhà nhân đạo chủ nghĩa vĩ đại, một nghệ sĩ nhân tài để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ:

+ 52 tập thơ, tiêu biểu nhất là các tập thơ: Thơ Dâng (1913), Người làm vườn (1914), Mùa hái quả (1915), Trăng non (1915), Tặng phẩm của người yêu (1918)…

+ 42 vở kịch: Sự tar thù của tự nhiên (1883), Vua và hoàng hậu (1889), …

+ 12 bộ tiểu thuyết: Gôra, Đắm thuyền, …

+ Trên 3000 bức họa còn được lưu trữ trong các bảo tàng nghệ thuật, hàng trăm ca khúc và ngót 200 truyện ngắn, …

+ Phong cách sáng tác: Thơ của ông thể hiện tinh thần dân tộc và dân chủ sâu sắc, tinh thần nhân văn cao cả và chất trữ tình triết lí nồng đượm; sử dụng thành công những hình ảnh thiên nhiên mang ý nghĩa tượng trưng, hình thức so sánh, liên tưởng về thủ pháp trùng điệp. Năm 1913, Ta-go trở thành tác giả người châu Á đầu tiên nhận được giải thưởng Nô-ben về văn học.

– Trò chơi hồi nhỏ: cả nhà quây quần bên bếp lửa trong trời đông và chơi oẳn tù tì, cảm xúc lúc đó rất vui vì cha mẹ luôn nhường cho các con thắng.

  1. Đọc hiểu 

* Nội dung chính: Bài thơ mang sắc điệu trữ tình như một khúc đồng dao thể hiện niềm giao cảm thần tiên của tâm hồn tuổi thơ với mây và sóng, với thiên nhiên kì diệu. Qua đó thể hiện tình yêu mẹ và mơ ước kì diệu của tuổi thơ.

* Trả lời câu hỏi giữa bài: 

Câu 1 (trang 24 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Chú ý sự tưởng tượng của em bé và các hình ảnh đẹp trong đoạn thơ.

Trả lời: 

– Sự tưởng tượng của em bé: Em bé tưởng tượng đám mây trên bầu trời đang nói chuyện cùng em và em cùng trò truyện với mây.

– Hình ảnh đẹp trong đoạn thơ: bình minh vàng, vầng trăng bạc.

Câu 2 (trang 24 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Những hình ảnh thiên nhiên nào được nhắc đến trong toàn bộ bài thơ?

Trả lời: 

– Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong toàn bộ bài thơ: mây và sóng.

Câu 3 (trang 24 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Chú ý lời nói của em bé sau lời mời gọi của những người “trên mây” và “trong sóng”.

Trả lời: 

– Lời nói của em bé sau lời mời gọi của những người “trên mây” và “trong sóng”: Em bé đều nghĩ về mẹ (mẹ đang đơi, mẹ mong muốn ở nhà), không nghe theo lời mời gọi ngọt ngào mà luôn đặt mẹ lên trên các cuộc vui.

* Trả lời câu hỏi cuối bài: 

Câu 1 (trang 25 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Về hình thức, văn bản Mây và sóng có gì khác so với các văn bản thì em đã học ở Bài 2 trong sách Ngữ văn 7, tâp một? Bài thơ có sự kết hợp của những phương thức biểu đạt nào (tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh,…)?

Trả lời: 

– Về hình thức, văn bản Mây và sóng khác so với các văn bản thì em đã học ở Bài 2 là:

Mây và sóngVăn bản bài 2
– Số từ không cố định trong dòng thơ

– Cả bài thơ liền mạch không chia nhỏ các đoạn thơ

– Số từ cố định trong dòng thơ (4/5 từ)

– Bài thơ chia làm nhiều khổ/ đoạn nhỏ khác nhau.

– Bài thơ có sự kết hợp của những phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả, biểu cảm

Câu 2 (trang 25 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Bài thơ có thể chia làm hai phần (phần 1: từ đầu đến “bầu trời xanh thẳm”: phần 2: còn lại). Em hãy chỉ ra những nét giống nhau và khác nhau của hai phần đó về số dòng, hình ảnh, cách tổ chức mỗi phần.

Trả lời: 

Phần 1Phần 2
Giống nhauKết cấu, số dòng thơ, cách xây dựng hình ảnh đều theo trình tự thuật lại lời rủ rê, lời từ chối và sự tưởng tượng sáng tạo trò chơi.
Khác nhau+ Đối tượng: mây

+ Trò chơi: con là mây và mẹ là trăng

+ Không gian : trên trời

→ Tác dụng: Tạo sự trùng điệp, nâng cao, làm nổi bật chủ đề – Tình mẹ con.

+ Đối tượng: sóng

+ Trò chơi: con là sóng và mẹ là bến bờ kì lạ.

+ Không gian: dưới biển.

=> Phần thứ hai cho ý thơ trọn vẹn hơn, tác động trùng điệp, hô ứng, khẳng định những tình cảm đã được thể hiện trong thử thách thứ nhất.

Câu 3 (trang 25 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Cuộc vui chơi của những người “trên mây” và “trong sóng” hấp dẫn ở chỗ nào? Tại sao em bé không tham gia những cuộc vui đó?

Trả lời: 

– Cuộc vui chơi của những người “trên mây” và “trong sóng” hấp dẫn ở chỗ: được tự do vui chơi, ca hát từ sáng sớm đến tối muộn, được vui đùa thỏa thích với bình minh vàng, vầng trăng bạc, ngao du khắp các nơi.

– Em bé không tham gia vì nhớ tới mẹ đang chờ ở nhà, vì nhớ tới mong muốn của mẹ là muốn em ở nhà buổi chiều. Chính mẹ em bé, tình yêu thương của mẹ dành cho em đã trở thành sợi dây vô hình buộc chặt em bé ở lại, buộc chặt tâm trí em với lòng mẹ.

=> Tình yêu mẹ vẫn luôn chiến thắng để từ chối những lời gọi.

Câu 4 (trang 25 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Theo em, vì sao những trò chơi do em bé tạo ra lại thú vị và hay hơn?

Trả lời: 

– Theo em những trò chơi do em bé tạo ra lại thú vị và hay hơn là vì ở đó có hai mẹ con cùng nhau vui đùa. Chính mẹ em bé, tình yêu thương của mẹ dành cho em đã trở thành sợi dây vô hình buộc chặt em bé ở lại, buộc chặt tâm trí em với lòng mẹ. Cũng chính vì điều đó mà những trò chơi sáng tạo của em bé thú vị chẳng kém trò chơi của những người sống trên mây và sóng.

Câu 5 (trang 25 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc tới trong các trò chơi của em bé có đặc điểm như thế nào? Qua đó, nhà thơ muốn thể hiện điều gì?

Trả lời: 

– Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc tới trong các trò chơi của em bé có đặc điểm: giống với hình ảnh tự nhiên, có mây, có trăng, có sóng, có bầu trời xanh thẳm

=> Qua đó nhà thơ muốn thể hiện sự gắn bó, yêu thương sâu sắc. Dù ở bất cứ nơi đâu, em bé vẫn muốn ở cùng với mẹ. Nổi bật hẳn lên trong phần hai cũng như là một điểm nhấn cho toàn bộ tác phẩm chính là câu thơ và không ai trên thế gian này biết mẹ con ta ở chốn nào. Tại sao em bé lại nói như vậy, đó là bởi em tin chắc rằng tình cảm giữa em và người mẹ sẽ ở khắp mọi nơi, mọi chốn. Tình cảm ấy sâu sắc đến mức không ai có thể hiểu hết được. Tình mẫu tử là thiêng liêng, bất diệt, hòa cả vào trong thiên nhiên bao la, thơ mộng.

Câu 6 (trang 25 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Theo em, qua bài thơ, tác giả muốn gửi đến người đọc thông điệp gì?

Trả lời: 

Theo em, qua bài thơ, tác giả muốn gửi đến người đọc thông điệp về tình mẫu tử:

+ Sức mạnh của tình mẫu tử, ngợi ca tình mẫu tử. Tấm lòng mẹ bao la như “bến bờ kì lạ”, tình mẹ con gắn bó như mây – trăng, biển – bờ, tình cảm ấy đã lên kích cỡ vũ trụ, thiêng liêng, bất diệt.

+ Tình mẫu tử chính là điểm tựa vững chắc trước những cám dỗ cuộc đời.

+ Hạnh phúc không xa xôi bí ẩn, nó ở quanh ta, do chúng ta tạo nên.

 

Soạn văn lớp 7 Tập 2

 

 

 

 

Mây và sóng – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều

Mây và sóng – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều

 

 

 

Mây và sóng – Ngữ Văn 7 – Cánh Diều