Lão Hạc – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều

Lão Hạc – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều

 

LÃO HẠC

(Nam Cao)

Lão Hạc thổi cái mồi rơm, châm đóm. Tôi đã thông điếu và bỏ thuốc rồi. Tôi mời lão hút trước. Nhưng lão không nghe…

– Ông giáo hút trước đi.

Lão đưa đóm cho tôi…

– Tôi xin cụ.

Và tôi cầm lấy đóm, vo viên một điếu. Tôi rít một hơi xong, thông điếu rồi mới đặt vào lòng lão. Lão bỏ thuốc, nhưng chưa hút vội. Lão cầm lấy đóm, gạt tàn, và bảo:

– Có lẽ tôi bán con chó đấy, ông giáo ạ!

Lão đặt xe điếu, hút. Tôi vừa thở khói vừa gà gà đôi mắt của người say, nhìn lão, nhìn để làm ra vẻ chú ý đến câu nói của lão đó thôi. Thật ra thì trong lòng tôi rất dửng dưng. Tôi nghe câu ấy đã nhàm rồi. Tôi lại biết rằng: Lão nói là nói để đó đấy thôi, chẳng bao giờ lão bán đâu. Vả lại, có bán thật nữa thì đã sao? Làm quái gì một con chó mà lão có vẻ băn khoăn quá thế!…

Lão hút xong, đặt xe điếu xuống, quay ra ngoài, thở khói. Sau một điếu thuốc lào, óc người ta tê dại đi trong một nỗi đê mê nhẹ nhõm. Lão Hạc ngồi lặng lẽ, hưởng chút khoái lạc con con ấy. Tôi cũng ngồi lặng lẽ. Tôi nghĩ đến mấy quyển sách quý của tôi. Tôi quý chúng có lẽ còn hơn những ngón tay tôi. Hồi bị ốm nặng ở Sài Gòn, tôi bán gần hết cả áo quần, nhưng vẫn không chịu bán cho ai một quyển. Ốm dậy, tôi về quê, hành lí chỉ vẻn vẹn có một cái va li đựng toàn những sách. Ôi những quyển sách rất nâng niu! Tôi đã nguyện giữ chúng suốt đời, để lưu lại cái kỉ niệm một thời chăm chỉ, hăng hái và tin tưởng đầy những say mê đẹp và cao vọng; mỗi lần mở một quyển ra, chưa kịp đọc dòng nào, tôi đã thấy bừng lên trong lòng tôi như một rạng đông, cái hình ảnh tuổi hai mươi trong trẻo, biết yêu và biết ghét… Nhưng đời người ta không chỉ khổ một lần. Mỗi lần cùng đường đất sinh nhai và bán hết mọi thứ rồi, tôi lại phải bán đi một ít sách của tôi. Sau cùng chỉ còn có năm quyển, tôi nhất định dù có phải chết cũng không chịu bán. Ấy thế mà tôi cũng bán! Mới cách đây có hơn một tháng thôi, đứa con nhỏ của tôi bị chứng lị gần kiệt sức… Không! Lão Hạc ơi! Ta có quyền giữ cho ta một tí gì đâu? Lão quý con chó vàng của lão đã thấm vào đâu với tôi quý năm quyển sách của tôi…

Tôi nghĩ thầm trong bụng thế. Còn lão Hạc, lão nghĩ gì? Đột nhiên, lão bảo tôi:

– Này! Thằng cháu nhà tôi, đến một năm nay, chẳng có giấy má gì đấy, ông giáo ạ!

À! Thì ra lão đang nghĩ đến thằng con lão. Nó đi cao su năm, sáu năm rồi. Hồi tôi mới về, nó đã hết một hạn công-ta. Lão Hạc đem thư của nó sang, mượn tôi xem. Nhưng nó xin đăng thêm một hạn nữa… Lão vội cắt nghĩa cho tôi hiểu tại sao lão đang nói chuyện con chó lại nhảy vọt sang chuyện thằng con như vậy:

– Con chó là của cháu nó mua đấy chứ!… Nó mua về nuôi, định để đến lúc cưới vợ thì giết thịt…

Ấy! Sự đời lại cứ thường như vậy đấy. Người ta định rồi chẳng bao giờ người ta làm được. Hai đứa mê nhau lắm. Bố mẹ đứa con gái biết vậy, nên cũng bằng lòng gả. Nhưng họ thách nặng quá: nguyên tiền mặt phải một trăm đồng bạc, lại còn cau, còn rượu,… cả cưới nữa thì mất đến cứng hai trăm bạc. Lão Hạc không lo được. Ý thẳng con lão thì nó muốn bán vườn, cố lo cho bằng được. Nhưng lão không cho bán. Ai lại bán vườn đi mà lấy vợ? Vả lại bán vườn đi, thì cưới vợ, về ở đâu? Với lại, nói cho cùng nữa, nếu đằng nhà gái họ cứ khăng khăng đòi như vậy, thì dẫu có bán vườn đi cũng không đủ cưới. Lão Hạc biết vậy đấy, nhưng cũng không dám xẵng. Lão tìm lời lẽ giảng giải cho con trai hiểu. Lão khuyên nó hãy dằn lòng”, bỏ đám này để dùi giắng lại ít lâu, xem có đám nào khác mà nhẹ tiền hơn sẽ liệu; chẳng lấy đứa này thì lấy đứa khác; làng này đã chết hết con gái đâu mà sợ?… Lạy trời lạy đất! Nó cũng là thằng khá, nó thấy bố nói thế thì thôi ngay, nó không đả động đến việc cưới xin nữa. Nhưng nó có vẻ buồn. Và lão biết nó vẫn theo đuổi con kia mãi. Lão thương con lắm. Nhưng biết làm sao được?… Tháng Mười năm ấy, con kia đi lấy chồng; nó lấy con trai một ông phó lị…, nhà có của. Thằng con lão sinh phẫn chí. Ngay mấy hôm sau, nó ra tỉnh đến sở mộ phu, đưa thẻ, kí giấy xin đi làm đồn điền cao su…

Lão rân rấn nước mắt, bảo tôi:

– Trước khi đi, nó còn cho tôi ba đồng bạc, ông giáo ạ! Chả biết nó gửi thẻ xong, vay trước được mấy đồng, mà đưa về cho tôi ba đồng. Nó đưa cho tôi ba đồng và bảo: “Con biếu thầy ba đồng để thỉnh thoảng thầy ăn quà; xưa nay con ở nhà mãi cũng chẳng nuôi thầy được bữa nào, thì con đi cũng chẳng phải lo; thầy bòn vườn5 đất với làm thuê làm mướn thêm cho người ta thế nào cũng đủ ăn; con đi chuyến này cố chí làm ăn, bao giờ có bạc trăm con mới về; không có tiền, sống khổ sống sở ở cái làng này, nhục lắm!…”. Tôi chỉ còn biết khóc chứ còn biết làm sao được nữa? Thẻ của nó, người ta giữ. Hình của nó, người ta đã chụp rồi. Nó lại đã lấy tiền của người ta. Nó là người của người ta rồi, chứ đâu có còn là con tôi?…

Lão Hạc ơi! Bây giờ thì tôi hiểu tại sao lão không muốn bán con chó vàng của lão. Lão chỉ còn một mình nó để làm khuây. Vợ lão chết rồi. Con lão đi bằn bặt. Già rồi mà ngày cũng như đêm, chỉ thui thủi một mình thì ai mà chả phải buồn? Những lúc buồn, có con chó làm bạn thì cũng đỡ buồn một chút. Lão gọi nó là cậu Vàng như một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự. Thỉnh thoảng không có việc gì làm, lão lại bắt rận cho nó hay đem nó ra ao tắm. Lão cho nó ăn cơm trong một cái bát như một nhà giàu. Lão ăn gì lão cũng chia cho nó cùng ăn. Những buổi tối, khi lão uống rượu, thì nó ngồi ở dưới chân. Lão cứ nhắm vài miếng lại gắp cho nó một miếng như người ta gắp thức ăn cho con trẻ. Rồi lão chửi yêu nó, lão nói với nó như nói với một đứa cháu bé về bố nó. Lão bảo nó thế này:

– Cậu có nhớ bố cậu không, hả cậu Vàng? Bố cậu lâu lắm không có thư về. Bố cậu đi có lẽ được đến ba năm rồi đấy… Hơn ba năm… Có đến ngót bốn năm… Không biết cuối năm nay bố cậu có về không? Nó mà về, nó cưới vợ, thì nó giết cậu. Liệu hồn cậu đấy!

Con chó vẫn hếch mõm lên nhìn, chẳng lộ một vẻ gì; lão lừ mắt nhìn trùng trùng vào mắt nó, to tiếng doạ:

– Nó giết mày đấy! Mày có biết không? Ông cho thì bỏ bố!

Con chó tưởng chủ mắng, vẫy đuôi mừng để lấy lòng chủ. Lão Hạc nạt to hơn nữa:

– Mừng à? Vẫy đuôi à? Vẫy đuôi thì cũng giết! Cho cậu chết

Thấy lão sừng sộ quá, con chó vừa vẫy đuôi vừa chực lảng. Nhưng lão vội nắm lấy nó, ôm đầu nó, đập nhè nhẹ vào lưng nó và dấu dí.

– À không! À không! Không giết cậu Vàng đâu nhỉ!… Cậu Vàng của ông ngoan lắm! Ông không cho giết… Ông để cậu Vàng ông nuôi…

Lão buông nó ra để nhấc chén, ghé lên môi uống. Lão ngẩn mặt ra một chút, rồi bỗng nhiên thở dài. Rồi lão lẩm bẩm tính. Đấy là lão tính tiền bòn vườn của con…

Sau khi thằng con đi, lão tự hỏi rằng: “Cái vườn là của con ta. Hồi còn mồ ma? mẹ nó, mẹ nó cổ thắt lưng buộc bụng3, dè sẻn mãi, mới để ra được năm mươi đồng bạc tậu. Hồi ấy, mọi thức còn rẻ cả… Của mẹ nó tậu thì nó hưởng. Lớp trước nó đòi bán, ta không cho bán là ta có ý giữ cho nó, chứ có phải giữ để ta ăn đâu? Nó không có tiền cưới vợ, phẫn chí bước ra đi, thì đến lúc có tiền để lấy vợ, mới chịu về. Ta bòn vườn của nó, cũng nên để ra cho nó; đến lúc nó về, nếu nó không đủ tiền cưới vợ thì ta thêm vào với nó, nếu nó có đủ tiền cưới vợ, thì ta cho vợ chồng nó để có chút vốn mà làm ăn…. Lão tự bảo lão như thế, và lão làm đúng như thế. Lão làm thuê để kiếm ăn. Hoa lợi của khu vườn được bao nhiêu, lão để riêng ra. Lão chắc mẩm” thế nào đến lúc con lão về, lão cũng có được một trăm đồng bạc…

Lão lắc đầu chán nản, bảo tôi:

– Ấy thế mà bây giờ hết nhẵn, ông giáo ạ! Tôi chỉ ốm có một trận đấy thôi. Một trận đúng hai tháng mười tám ngày, ông giáo ạ! Hai tháng mười tám ngày đã không làm ra được một xu, lại còn thuốc, lại còn ăn… Ông thử tính ra xem bao nhiêu tiền vào đấy?…

Sau trận ốm, lão yếu người đi ghê lắm. Những công việc nặng không làm được nữa. Làng mất vé sợi, nghề vải đành phải bỏ. Đàn bà rỗi rãi nhiều. Còn tí việc nhẹ nào, họ tranh nhau làm mất cả. Lão Hạc không có việc. Rồi lại bão. Hoa màu bị phá sạch sành sanh. Từ ngày bão đến nay, vườn lão chưa có một tí gì bán. Gạo thì cứ kém mãi đi. Một lão với một con chó, mỗi ngày ba hào gạo, mà ra sự10 vẫn còn đói deo đói dắt…

– Tính ra cậu Vàng cậu ấy ăn khoẻ hơn cả tôi, ông giáo ạ. Mỗi ngày cậu ấy ăn thế, bỏ rẻ cũng mất hào rưỡi, hai hào đấy. Cứ mãi thế nảy thì tôi lấy tiền đâu mà nuôi được? Mà cho cậu ấy ăn ít thì cậu ấy gầy đi, bán hụt tiền, có phải hoài không? Bây giờ cậu ấy béo trùng trục, mua đắt, người ta cũng thích…

Lão ngắt lại một chút, rồi tặc lưỡi:

– Thôi thì bán phắt đi! Đỡ được đồng nào, hay đồng ấy. Bây giờ tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của cháu. Tiêu lắm chỉ chết nó. Tôi bây giờ có làm gì được đâu!

Hôm sau, lão Hạc sang nhà tôi. Vừa thấy tôi, lão báo ngay:

– Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạt

– Cụ bán rồi?

– Bán rồi! Họ vừa bắt xong.

Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà oà lên khóc. Bây giờ thì tôi không xót xa năm quyển sách của tôi quá như trước nữa. Tôi chỉ ái ngại cho lão Hạc. Tôi hỏi cho có chuyện:

– Thế nó cho bắt à?

Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…

– Khốn nạn… Ông giáo ơi!… Nó có biết gì đâu! Nó thấy tôi gọi thì chạy ngay về, vẫy đuôi mừng. Tôi cho nó ăn cơm. Nó đang ăn thì thẳng Mục nấp trong nhà, ngay đằng sau nó, tóm lấy hai cẳng sau nó dốc ngược nó lên. Cứ thế là thắng Mục với thẳng Xiên, hai thằng chúng nó chỉ loay hoay một lúc đã trói chặt cả bốn chân nó lại. Bấy giờ ca cậu mới biết là cu cậu chết…. Này! Ông giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn! Nó cứ làm in như nó trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi, như muốn bảo tôi rằng: “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à?”. Thì ra tôi giả bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lửa nó!

Tôi an ủi lão:

– Cụ cứ tưởng thế đấy chứ nó chả hiểu gì đâu! Vả lại, ai nuôi chó mà chả bán hay giết thịt! Ta giết nó chính là hoá kiếp cho nó đẩy, hoá kiếp để cho nó làm kiếp khác.

Lão chua chút bảo

Ông giáo nói phải! Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút… kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn….

Tôi bùi ngùi nhìn lão, bảo:

– Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ! Cụ tưởng tôi sung sướng hơn chăng?

− Thế thì không biết nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng?

Lão cười và họ sòng sọc. Tôi nắm lấy cái vai gầy của lão, ôn tồn bảo:

– Chẳng kiếp gì sung sướng thật, nhưng có cái này là sung sướng: Bây giờ cụ ngồi xuống phản này chơi, tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu một ấm nước chè tươi thật đặc; ông con mình ăn khoai, uống nước chè, rồi hút thuốc lào… Thế là sướng.

– Vâng! Ông giáo dạy phải! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng.

Lão nói xong lại cười đưa đà”. Tiếng cười gượng nhưng nghe đã hiền hậu lại. Tôi vui vẻ bào:

– Thế là được, chứ gì? Vậy cụ ngồi xuống đây, tôi di luộc khoai, nấu nước.

– Nói đùa thế, chứ ông giáo cho để khi khác…

– Việc gì còn phải chờ khi khác?… Không bao giờ nên hoãn sự sung sướng lại.

Cụ cứ ngồi xuống đây! Tôi làm nhanh lắm…

– Đã biết, nhưng tôi còn muốn nhờ ông một việc…

Mặt lão nghiêm trang lại…

– Việc gì thế, cụ?

− Ông giáo để tôi nói…. Nó hơi dài dòng một ti.

— Vâng, cụ nói.

– Nó thế này, ông giáo ạ!…

Và lão kể. Lão kể nhỏ nhẻ và dài dòng thật. Nhưng đại khái2 có thể rút vào hai việc. Việc thứ nhất: Lão thì già, con đi vắng, vả lại nó cũng còn dại lắm, nếu không có người trông nom cho thì khó mà giữ được vườn đất để làm ăn ở làng này; tôi là người nhiều chữ nghĩa, nhiều lí luận, người ta kiêng nể, vậy lão muốn nhờ tôi cho lão gửi ba sào vườn của thằng con lão; lão viết văn tự nhượng cho tôi để không ai còn tơ tưởng 1 dòm ngó đến; khi nào con lão về thì nó sẽ nhận vườn làm, nhưng văn tự cứ để tên tôi cũng được, để thể để tôi trông coi cho nó… Việc thứ hai: Lão già yếu lắm rồi, không biết sống chết lúc nào, con không có nhà, lỡ chết không biết ai đứng ra lo cho được; để phiền cho hàng xóm thi chết không nhắm mắt; lão còn được hãm nhãm đồng bạc với năm đồng bạc vừa bán chó là ba mươi đồng bạc, muốn gửi tôi, để lỡ có chết thì tôi đem ra, nói với hàng xóm giúp, gọi là của lão có tí chút, còn bao nhiêu đành nhờ hàng xóm cả….

Tôi bật cười bảo lão:

– Sao cụ lo xa quá thế? Cụ còn khoẻ lắm, chưa chết đâu mà sợ! Cụ cứ để tiền ấy mà ăn, lúc chết hãy hay! Tội gì bây giờ nhịn đói mà tiền để lại?

– Không, ông giáo ạ! Ăn mãi hết đi thì đến lúc chết lấy gì mà lo liệu?

– Đã đành rằng là thế, nhưng tôi bòn vườn của nó bao nhiêu, tiêu hết cả. Nó vợ con chưa có. Ngộ nó không lấy gì lo được, lại bán vườn thì sao?… Tôi cắn rơm cắn cỏ, tôi lạy ông giáo! Ông giáo có nghĩ cái tình tôi già nua tuổi tác mà thương thì ông giáo cứ cho tôi gửi.

Thấy lão nằn nì mãi, tôi đành nhận vậy. Lúc lão ra về, tôi còn hỏi:

– Có đồng nào, cụ nhặt nhạnh đưa cho tôi cả thì cụ lấy gì mà ăn?

Lão cười nhạt bảo:

– Được ạ! Tôi đã liệu dâu vào đấy… Thế nào rồi cũng xong.

Luôn mấy hôm, tôi thấy lão Hạc chỉ ăn khoai. Rồi thì khoai cũng hết. Bắt đầu từ đẩy, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy hay bừa trai, bữa ốc. Tôi nói chuyện lão với vợ tôi. Thị gạt phắt đi:

– Cho lão chết! Ai bảo lão có tiền mà chịu khổ! Lão làm lão khổ chứ ai làm lão khổ! Nhà mình sung sướng gì mà giúp lão? Chính con minh cũng đói…

Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gần dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi,… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương; không bao giờ ta thương… Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi. Một người đau chân có lúc nào quên được cải chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu? Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất. Tôi biết vậy, nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận. Tôi giấu giếm vợ tôi, thỉnh thoảng giúp ngấm ngầm lão Hạc. Nhưng hình như lão cũng biết vợ tôi không ưng giúp lão. Lão từ chối tất cả những cái gì tôi cho lão. Lão từ chối một cách gần như là hách dịch. Và lão cứ xa tôi dần dần…

Lão không hiểu tôi, tôi nghĩ vậy, và tôi càng buồn lắm. Những người nghèo nhiều tự ái vẫn thường như thế. Họ dễ tủi thân nên rất hay chạnh lòng. Ta khó mà ở cho vừa ý họ… Một hôm, tôi phản nản về việc ấy với Binh Tư. Binh Tư là một người láng giềng khác của tôi. Hắn làm nghề ăn trộm nên vốn không ưa lão Hạc bởi vì lão lương thiện quá. Hắn bĩu môi và bảo:

− Lão làm bộ đấy! Thật ra thi lão chỉ tâm ngẫm thế, nhưng cũng ra phết chứ chả vừa đâu: lão vừa xin tôi một ít bả chó…

Tôi trổ to đôi mắt, ngạc nhiên. Hắn thì thầm:

– Lão bào có con chó nhà nào cứ đến vườn nhà lão… Lão định cho nó xơi một bữa. Nếu trúng, lão với tôi uống rượu.

Hỡi ơi lão Hạc! Thì ra đến lúc cùng lão cũng có thể làm liều như ai hết… Một người như thế ấy!… Một người đã khóc vì trót lừa một con chó!… Một người nhịn ăn để tiền lại làm ma, bởi không muốn liên lụy đến hàng xóm, láng giềng… Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn ư? Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn….

Không! Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác. Tôi ở nhà Binh Tư về được một lúc lâu thì thấy những tiếng nhốn nháo ở bên nhà lão Hạc. Tôi mải mốt chạy sang. Mấy người hàng xóm đến trước tôi đang xôn xao ở trong nhà. Tôi xồng xộc chạy vào. Lão Hạc đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nảy lên. Hai người đàn ông lực lưỡng phải ngồi đè lên người lão. Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ rồi mới chết. Cái chết thật là dữ dội. Chẳng ai hiểu lão chết vì bệnh gì mà đau đớn và bất thình lình như vậy. Chỉ có tôi với Binh Tư hiểu.

Nhưng nói ra làm gì nữa! Lão Hạc ơi! Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt! Lão đừng lo gì cho cái vườn của lão. Tôi sẽ cố giữ gìn cho lão. Đến khi con trai lão về, tôi sẽ trao lại cho hắn và bảo hắn: “Đây là cái vườn mà ông cụ thân sinh ra anh đã cố để lại cho anh trọn vẹn; cụ thà chết chứ không chịu bán đi một sào…”.

1943


 

  1. Chuẩn bị:

Yêu cầu (trang 4 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Xem lại phần Kiến thức ngữ văn để vận dụng vào đọc hiểu văn bản này.

– Khi đọc hiểu truyện ngắn, các em cần lưu ý:

+ Tóm tắt được nội dung văn bản (cốt truyện).

+ Nhân vật và mối quan hệ giữa các nhân vật trong truyện.

+ Đề tài của truyện, ý nghĩa nhan đề của tác phẩm.

+ Liên hệ với bối cảnh xã hội và những hiểu biết của bản thân để hiểu sâu hơn tác phẩm truyện.

– Đọc trước truyện ngắn Lão Hạc; tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Nam Cao và một số bài viết xung quanh tác phẩm Lão Hạc.

Trả lời:

– Khi đọc truyện:

+ Tóm tắt: Vợ đã mất, con trai vì nghèo mà không lấy được vợ nên phẫn chí xin đi mộ phu đồn điền cao su, một mình lão Hạc thui thủi bầu bạn cùng cậu Vàng, vốn là con chó mà con trai từng nuôi. Thế nhưng cuối cùng lão cũng phải tính toán bán cậu Vàng đi vì tình cảnh ngặt nghèo khó lòng nuôi nổi nó. Sau khi bán chó, lão Hạc tính trước tương lai khi gửi gắm ông giáo tiền bạc và nhờ ông trông nom giúp cửa nhà. Những ngày khốn khó bất ngờ ập đến, lão Hạc dần xa cách mọi người đặc biệt là ông giáo. Điều ấy khiến cho họ hiểu nhầm lão. Cuối cùng, lão tự tử bằng bả chó, gây bất ngờ cho mọi người và để lại nhiều xót xa, ngậm ngùi cho ông giáo.

+ Nhân vật: lão Hạc và ông giáo (mối quan hệ – hàng xóm).

+ Đề tài: người nông dân trong xã hội cũ

+ Ý nghĩa nhan đề: gợi sự đồng cảm của người đọc với thân phận người nông dân đồng thời gợi sự căm phẫn đối với ách thống trị của chế độ thực dân – phong kiến.

– Tác giả, tác phẩm:

+ Nam Cao (tên khai sinh là Trần Hữu Tri, 29 tháng 10, năm 1915 hoặc 1917 – 30 tháng 11 năm 1951) là một nhà văn, nhà thơ, nhà báo và cũng là một chiến sĩ, liệt sỹ người Việt Nam.

+ Ông là nhà văn hiện thực lớn (trước Cách mạng Tháng Tám), một nhà báo kháng chiến (sau Cách mạng), một trong những nhà văn tiêu biểu nhất thế kỷ 20.

+ Lão Hạc là một truyện ngắn của nhà văn Nam Cao được viết vào năm 1943. Tác phẩm được đánh giá là một trong những truyện ngắn tiêu biểu của dòng văn học hiện thực, nội dung truyện đã phần nào phản ánh được hiện trạng xã hội Việt Nam trong giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám.

  1. Đọc hiểu:

* Nội dung chính:

Truyện kể về lão Hạc – một người nông dân nghèo, sống cô độc chỉ có con chó vàng làm bạn. Con trai lão vì nghèo không lấy được vợ đã phẫn chí bỏ làng đi làm ăn xa. Lão Hạc ở nhà chờ con về, làm thuê để sống. Dù đói lão vẫn quyết không bán mảnh vườn và không ăn vào số tiền dành dụm được do thu hoạch từ mảnh vườn; lão giữ cả cho con trai.

* Trả lời câu hỏi giữa bài:

Câu 1 (trang 5 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Đoạn văn “Tôi cũng ngồi lặng lẽ […] tôi quý năm quyển sách của tôi…” thuật lại những sự kiện liên quan đến nhân vật nào?

Trả lời:

– Đoạn văn liên quan đến nhân vật ông giáo.

Câu 2 (trang 6 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Đoạn văn này giúp em hiểu thêm được gì về hoàn cảnh của nhân vật lão Hạc?

Trả lời:

– Đoạn văn này giúp hiểu thêm về hoàn cảnh của nhân vật lão Hạc: nhà nghèo, vợ mất sớm, chỉ còn đứa con trai; con trai bỏ đi làm đồn điền cao su biền biệt không về. Chỉ có con chó vàng mà con trai để lại làm bạn.

Câu 3 (trang 7 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Những lời nói của lão Hạc với “cậu Vàng” thể hiện điều gì?

Trả lời:

– Thể hiện nỗi nhớ thương dành cho con trai đi mãi không về, đồng thời cũng là tình cảm mà lão Hạc dành cho cậu Vàng.

Câu 4 (trang 9 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Chú ý cách Nam Cao miêu tả nhân vật Lão Hạc qua ngoại hình, ngôn ngữ, tâm lí.

Trả lời:

– Ngoại hình: Mặt lão đột nhiên co rúm lại, những nếp nhăn xôi lại, cái đầu lão ngoẹo về một bên, cái miệng móm mém mếu như con nít,…

– Ngôn ngữ: Cậu Vàng đi đời rồi ông giáo ạ!, Khốn nạn,… Ông giáo ơi!,…

– Tâm lí: Đau đớn, xót xa

Câu 5 (trang 9 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Câu nói của lão Hạc “chua chát” ở chỗ nào?

Trả lời:

– Câu nói của lão Hạc chua chát ở chỗ: lão rất yêu quý cậu Vàng nhưng vì hoàn cảnh lão buộc phải bán nó đi và để che đậy cho nỗi xót xa vì mất đi người bạn trung thành lão đành tìm một lí do là “hoá kiếp” cho cậu Vàng được làm người.

Câu 6 (trang 10 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Chú ý thái độ của ông giáo qua lời nói và hành động.

Trả lời:

Thái độ an ủi, đồng cảm, sẻ chia.

Câu 7 (trang 10 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Qua những việc nhờ ông giáo, nhân vật lão Hạc đã thể hiện được đặc điểm nào?

Trả lời:

Qua những việc nhờ ông giáo, nhân vật lão Hạc đã thể hiện được đặc điểm:

– Yêu thương con trai, luôn mong ngóng con trở về

– Lo lắng chu toàn cho con

– Có lòng tự trọng (không muốn làm ảnh hưởng đến người khác)

– Là người hay suy nghĩ và tỉnh táo nhận ra tình cảnh của mình lúc này

Câu 8 (trang 11 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Những từ ngữ nào thể hiện sự nhún nhường hết mức của lão Hạc?

Trả lời:

– Những từ ngữ thể hiện sự nhún nhường hết mức của lão Hạc: cắn rơm cắn cỏ, lạy, ông giáo có nghĩ cái tình tôi già nua tuổi tác mà thương…

Câu 9 (trang 11 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Chú ý tình cảnh của Lão Hạc.

Trả lời:

Khó khăn, không còn gì để ăn. Phải ăn khoai, ăn củ chuối, rau má,…

Câu 10 (trang 11 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Lời tâm sự của nhân vật ông giáo ở đây là nói với ai?

Trả lời:

– Lời tâm sự của ông giáo ở đây là nói với người đọc, cũng là một lời độc thoại để người đọc hiểu hơn về vợ của ông giáo.

Câu 11 (trang 12 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Điều gì khiến ông giáo thấy “Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn…”?

Trả lời:

– Vì ông giáo nghĩ lão Hạc – một người lương thiện nhưng cũng bị tha hoá, xấu xa giống như Binh Tư.

Câu 12 (trang 12 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Chú ý các chi tiết miêu tả cái chết của Lão Hạc.

Trả lời:

– Chi tiết: Lão Hạc đang vật vã ở trên giường …. Cái chết thật là dữ dội”.

* Trả lời câu hỏi cuối bài:

Câu 1 (trang 13 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Tóm tắt truyện Lão Hạc trong khoảng 10 – 15 dòng.

Trả lời:

Tham khảo

Lão Hạc là một lão nông dân cùng khổ. Tuy vô cùng khó khăn vất vả nhưng lúc nào lão cũng hiền lành, thật thà và giàu lòng tự trọng. lão chưa bao giờ than vãn về hoàn cảnh của mình hay làm phiền một ai. Vợ lão mất sớm, con trai lão vì không có đủ tiền cưới vợ, quẫn trí, nó bỏ đi làm phu đồn điền. Điều đó khiến lão buồn lắm. Lão chỉ có mình nó, giờ nó bỏ đi, sống chết chưa biết thế nào. Ngày ngày, lão thui thủi một mình. Nhiều lúc, lão tâm sự với cậu vàng, con chó của con trai lão mua nuôi định khi cưới vợ sẽ giết thịt. Cuộc sống ngày càng khó khăn, ốm đau bệnh tật đẩy lão Hạc vào bước đường cùng. Dù khó khăn hay đau ốm thế nào thì lão vẫn kiên quyết giữ mảnh vườn cho con trai. Sau trận ốm nặng, lão trở nên kiệt quệ, túng quẫn, khốn khó nên lão đành bán đi cậu Vàng và đem số tiền và mảnh vườn gửi cho ông giáo. Lão âm thầm xin Binh Tư một ít bả chó rồi tự kết liễu mình bằng số bả chó ấy. Cái chết của lão thật khủng khiếp và đầy đau đớn. Không ai biết được nguyên nhân cái chết đau đớn của lão ngoại trừ ông giáo và Binh Tư.

Câu 2 (trang 13 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Truyện có những nhân vật nào đáng chú ý? Phần (1) và (2) (in chữ nhỏ) mở đầu văn bản có vai trò như thế nào đối với phần sau của truyện?

Trả lời:

– Truyện có những nhân vật đáng chú ý: Lão Hạc, ông giáo, cậu Vàng.

– Phần (1) và (2) mở đầu văn bản có vai trò giới thiệu hoàn cảnh khốn khổ của lão Hạc; từ đó, tô đậm thêm những ngang trái xảy đến với lão Hạc trong phần (3) cũng như góp phần làm rõ nguyên nhân dẫn đến sự lựa chọn kết cục đầy bi thảm của lão Hạc ở cuối ở văn bản.

Câu 3 (trang 13 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Phân tích nhân vật lão Hạc:

  1. Hoàn cảnh lão Hạc trong truyện có gì đặc biệt? Người đọc biết được hoàn cảnh ấy qua lời kể của ai?
  2. Phân tích diễn biến hành động, tâm trạng của lão Hạc sau khi bán con chó Vàng. Theo em, nguyên nhân nào khiến lão Hạc có hành động và tâm trạng như vậy?
  3. Trước khi chết, lão Hạc đã chuẩn bị những gì? Tìm các chi tiết miêu tả cái chết của lão Hạc. Từ các chi tiết đó, em nhận xét gì về nhân vật này?

Trả lời:

  1. Hoàn cảnh
Biểu hiệnĐối tượng thuật lại
– Nghèo khổ, vợ đã mất sớm, đứa con trai duy nhất bỏ đi làm phu đồn điền cao su.

– Sống cô đơn, chỉ bầu bạn với mỗi con chó mà con trai từng nuôi.

– Chính nhân vật lão Hạc thuật lại.

 

– Qua lời kể của nhân vật ông giáo.

– Sau trận ốm nặng, lão đã không còn đủ sức đi làm thuê, làm mướn như trước được nữa.

– Cuối cùng, lão đành đau đớn bán đi con chó.

– Chính nhân vật lão Hạc thuật lại.

 

– Qua lời kể của nhân vật ông giáo.

– Sau khi nhờ ông giáo giữ tiền lo ma chay và giấy tờ mảnh vườn để lại cho con, lão Hạc sống rất khổ sở.

– Cuối cùng, lão xin bả chó của Bình Tư để kết thúc cuộc đời trong vật vã, đau đớn.

– Chủ yếu qua lời kể của nhân vật ông giáo.

– Hành động sau khi bán chó:

+ “Cố làm ra vẻ vui vẻ” nhưng “trông lão cười như mếu”.

+ Khóc hu hu.

– Tâm trạng sau khi bán chó:

+ Cảm thấy tội lỗi, tệ bạc khi lừa một con chó.

+ Đau đớn, dằn vặt vì quá thương cậu Vàng.

+ Chua chát, cay đắng cho số phận cơ cực của bản thân.

– Nguyên nhân dẫn đến hành động và tâm trạng trên:

+ Việc “lừa một con chó” mâu thuẫn với nhân cách tử tế từ trước tới giờ của lão.

– Lão Hạc xem cậu vàng như một người bạn, thậm chí là một người thân của mình.

+ Cậu Vàng là kỉ niệm và cũng là sự kết nối duy nhất của lão với con trai.

+ Lão Hạc nhận thức được sự bế tắc của số phận khi phải lừa bán con chó.

c.

– Việc làm trước khi chết:

+ Nhờ ông giáo đứng tên văn tự để trông nom hộ ba sào vườn.

+ Gửi ông giáo ba mươi đồng để làm đám tang nếu lão có mệnh hệ gì.

– Diễn biến của cái chết:

+ “Vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc”, “tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nảy lên”.

+ Chịu sự hành hạ khổ sở đến hai giờ đồng hồ rồi mới chết.

– Nhận xét về nhân vật

+ Số phận: đầy bi thảm.

  • Đói nghèo đã buộc nhân vật phải bán đi kỷ vật của con trai và cũng là người bạn thân thiết của bản thân.
  • Bao nhiêu cơ cực đã đẩy nhân vật vào đường cùng, đành phải chọn cái chết để bảo toàn tài sản cho con và giữ gìn lòng tự trọng cho bản thân.

cho bản thân.

+ Phẩm chất: rất tốt đẹp.

  • Rất mực thương con, luôn muốn vun đắp, dành dụm tất cả những gì có thể có để con được sống hạnh phúc.
  • Dù trong hoàn cảnh khốn cùng vẫn giữ lòng tự trọng.

Câu 4 (trang 13 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Em có nhận xét gì về nhân vật ông giáo (hoàn cảnh, suy nghĩ, thái độ, tình cảm dành cho lão Hạc…)? Chỉ ra vai trò của nhân vật này trong văn bản.

Trả lời:

* Hoàn cảnh:

– Có hoàn cảnh tương tự lão Hạc:

+ Nghèo khổ, vất vả.

+ Vì cuộc sống mà phải dứt ruột bán đi những thứ vô cùng quý giá với bản thân.

Ít nhiều gắn bó với lão Hạc:

+ Được lão chia sẻ những dự định, nỗi niềm.

+ Được lão tin tưởng nhờ cậy hai chuyện quan trọng cuối cùng.

  1. b) Suy nghĩ

– Thường có sự đối chiếu giữa hoàn cảnh của bản thân với hoàn cảnh của lão Hạc.

– Có những bình luận, đánh giá khá sắc sảo, tinh tế về những chuyện lão Hạc kể hoặc những điều biết về lão Hạc.

– Càng về cuối tác phẩm càng nhiều những day dứt, suy tư về nhân thế.

* Tình cảm, thái độ dành cho lão Hạc:

– Thoạt đầu có vẻ dửng dưng, thờ ơ khi nghe chuyện lão Hạc muốn bán chó và tâm sự về con trai.

– Cảm thông, chia sẻ, muốn giúp đỡ lúc thấy lão Hạc đau đớn vì bán chó.

– Buồn bã, khó hiểu khi lão Hạc từ chối sự giúp đỡ.

– Thoáng nghi ngờ, thất vọng khi nghe Binh Tư kể chuyện lão Hạc xin bả chó.

– Thương cảm, xót xa khi chứng kiến cái chết của lão Hạc và nguyện làm theo những mong muốn của lão để lão ra đi được nhẹ lòng.

* Vai trò của nhân vật:

– Bộc lộ tình cảm, thái độ của nhà văn dành cho nhân vật lão Hạc.

– Với vai trò người kể chuyện, nhân vật đã giúp câu chuyện sinh động hơn nhờ sự đan xen, kết hợp yếu tố miêu tả, biểu cảm, nghị luận trong quá trình trần thuật.

Câu 5 (trang 13 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Theo em, với truyện ngắn Lão Hạc, Nam Cao đã gửi gắm những điều gì khi viết về người nông dân nghèo trước Cách mạng tháng Tám 1945?

Trả lời:

Khi viết về người nông dân nghèo trước Cách mạng tháng Tám 1945 với truyện ngắn Lão Hạc, Nam Cao đã gửi gắm những điều gì sau:

– Nhà văn xót xa, đau đớn cho số phận bi thảm của người nông dân trong xã hội cũ.

– Nhà văn trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp tiềm ẩn của người nông dân dù trong hoàn cảnh khốn cùng vẫn giữ lòng tự trọng.

– Nhà văn chia sẻ và cảm thông với những khát vọng, ước mơ chính đáng của họ.

Câu 6 (trang 13 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Chỉ ra những yếu tố nghệ thuật đặc sắc của truyện ngắn Lão Hạc. Trong đó, em ấn tượng nhất với yếu tố nào? Vì sao?

Trả lời:

– Những yếu tố nghệ thuật đặc sắc của truyện ngắn Lão Hạc:

+ Xây dựng nhân vật sinh động, khắc hoạ tâm lí tinh tế.

+ Trần thuật bằng ngôi thứ nhất làm tăng tính khách quan, chân thực cho câu chuyện.

+ Kết hợp linh hoạt tự sự và một số phương thức biểu đạt khác.

– Yếu tố nghệ thuật mà em ấn tượng nhất chính là nghệ thuật xây dựng nhân vật, mỗi nhân vật trong tác phẩm đều đại diện cho một tầng lớp trong xã hội cũ, họ sống lầm than, nghèo khổ, chật vật và không có lối thoát. Cách xây dựng nhân vật này giúp người đọc hiểu rõ hơn về hoàn cảnh xã hội cũng như số phận chung của những người lao động thấp cổ bé họng lúc bấy giờ.

Câu 7 (trang 13 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Trong truyện có nhiều đoạn văn mang tính triết lí về cuộc sống, con người. Em thích nhất đoạn văn nào? Vì sao?

Trả lời:

– Em thích nhất đoạn văn “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta… không bao giờ ta thương….” vì đoạn văn này thể hiện sự cảm thông của tác giả với người lao động trong xã hội cũ, họ đã quá khổ sở để lo cho chính bản thân mình mà không thể động lòng thương với bất cứ ai.

Mẫu 2 :

Trong truyện có nhiều đoạn văn mang tính triết lí bởi đó là những tư tưởng, chiêm nghiệm về cuộc sống mà nhà văn muốn truyền tải đến người đọc, để ta hiểu thêm về con người và hoàn cảnh sống thời bấy giờ.

Em thích nhất đoạn văn “Chao ôi! Với những người ở quanh ta…..xa tôi dần dần.” vì đoạn văn này thể hiện sự cảm thông của tác giả với người lao động trong xã hội cũ, họ đã quá khổ sở để lo cho chính bản thân mình mà không thể động lòng thương với bất cứ ai.

Mẫu 3 :

Đoạn văn “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta […] không bao giờ ta thương…” nêu bài học trong cách đánh giá người khác: Bản tính tốt của con người nhiều khi đang bị những biểu hiện tiêu cực che lấp đi; do vậy, chúng ta phải cố gắng tìm hiểu, đặt bản thân vào hoàn cảnh của họ để có thể thông cảm, chia sẻ và yêu thương họ. Đoạn văn trên đã góp phần làm nên một nét đặc sắc của truyện ngắn Lão Hạc (trong truyện có nhiều đoạn văn mang tính triết lí về cuộc sống, con người và đó cũng là một đặc trưng khá nổi bật trong những sáng tác của Nam Cao (tác phẩm thường có tính triết lí sâu sắc)

 

 

 

Soạn văn 8 Cánh diều Tập 2

 

 

 

Lão Hạc – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều

Lão Hạc – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều