Chiều sâu của truyện Lão Hạc – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều

Chiều sâu của truyện Lão Hạc – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều

 

CHIỀU SÂU CỦA TRUYỆN LÃO HẠC

(Văn Giá)

[…] Cái hay của truyện là ở chỗ nào? Đâu là chỗ mà tài năng nghệ thuật của Nam Cao được thi thố? Tôi nghiệm ra rằng tác phẩm này có hai điểm mà tác giả dụng công nhiều nhất: Một, ông đã đưa hoạt động giao tiếp (câu chuyện giữa ông giáo và lão Hạc qua hai lần gặp gỡ) trở thành đối tượng nhận thức và mô tả trực tiếp. Hai, thông qua nội dung các cuộc trò chuyện ấy, tác giả đã gián tiếp thể hiện một tình thế lựa chọn của lão Hạc (lựa chọn giữa cái sống và cái chết cùng những hệ lụy của chúng).

Như chúng ta thấy, Nam Cao chỉ để cho lão Hạc tiếp xúc với ông giáo cả thảy hai lần – lần một đến thăm, trò chuyện, bộc lộ ý định bán chó; lần hai, ngay hôm sau khi bán chó, lão đến để gửi vườn và tiền. Toàn bộ câu chuyện là do nhân vật “tôi” – ông giáo – kể lại hai lần gặp gỡ chủ yếu của mình với lão Hạc, ngoài ra còn hai lần khác nữa: lần nói chuyện với vợ và lần nói chuyện với Binh Tư. Như vậy, hầu như từ đầu đến cuối truyện toàn thấy các cuộc trò chuyện mà thôi. nếu không cao tay, truyện sẽ trở nên đơn điệu, xuôi chiều, có nguy cơ nhạt nhẽo. Lựa chọn như vậy, Nam Cao khắc phục bằng cách nào? Đã trò chuyện thì ắt phải có nội dung, đương nhiên nội dung là quan trọng, nó cho ta biết có những chuyện gì trong đó. Song ở điểm này, Nam Cao dường như cho phơi bày ra hết, không giấu giếm, không nửa vời. Nhưng không chỉ có thế, có lẽ cái quan trọng hơn đối với tác giả là cách thức trò chuyện giữa hai người (bộc lộ qua điệu bộ, cử chỉ, giọng điệu, sự ngắt quãng, tâm thế người nói và tâm thế người nghe,…). Cả hai lần trò chuyện, ta thấy lão Hạc là người trong tâm thế của kẻ đi nhờ cậy cho nên lão nhẩn nha, rề ràm, vừa nói vừa nghĩ, vừa nghe ngóng, vừa băn khoăn thăm dò xem hiệu quả lời nói của mình đối với người nghe như thế nào,… Còn ông giáo – người nghe, vừa nghe, đánh giá, liên tưởng về thân phận mình, vừa cố nhận biết cho được những ý nghĩ thực của lão Hạc, vừa điều chỉnh những đánh giá của mình sao cho đúng đắn. Chính qua cái cách thức trò chuyện này, các nhân vật cứ dần dần lộ ra mỗi lúc một rõ nét những suy tư nội tâm của mình: một bên là người già cả đầy âu lo, toan tính một cách tội nghiệp theo tinh thần khắc kỉ và lòng bác ái Cơ đốc giáo, một bên là người biết lắng nghe, lòng đầy cảm thương, chia sẻ, muốn an ủi, vỗ về,… Cách thức trò chuyện đã ẩn tàng nhiều ý nghĩa sâu xa hơn là bản thân những lời trò chuyện. Vậy là không cần hành động, không cần biến cố (hai yếu tố này đã bị thiểu giảm tới mức tối đa), tác giả để cho tính cách nhân vật hiện lên qua hai cuộc trò chuyện, nhờ vào đó để triển khai tâm tưởng bề sâu của nhân vật. Chân dung nhân vật như móc vào tâm trí người đọc.

Đây cũng là một ưu thế của cây bút Nam Cao.

Về phần cuối truyện, tác giả đặt nhân vật vào hai toạ

độ nhìn khác: vợ ông giáo và Binh Tư. Trò chuyện với vợ,

ông giáo nghiền ngẫm triết lí về việc nhìn nhận và đánh

giá người đời. Trò chuyện với Binh Tư, ông giáo từ sửng

sốt chuyển sang thất vọng về lão Hạc. Ở chỗ này, Nam

Cao thật cao tay — ông đưa ra một sự hiểu lầm bất ngờ, để rồi cũng bằng cách bất ngờ nhất, ông “lật tẩy” sự việc, làm cho người đọc thoả mãn trong sự hiểu biết trọn vẹn: lão Hạc vẫn vẹn nguyên trong sạch đến lúc chết! Giấu đến tận cùng số phận nhân vật, thỉnh thoảng hé mở vài cảnh huống gây sự hiểu lầm, rồi cuối cùng giải toả sự hiểu lầm ấy là một thành công đặc sắc của nghệ thuật tự sự Nam Cao ở truyện này. Đây là một thủ pháp tự sự đã áp dụng một cách tinh tế, xử lí thật điệu nghệ và cũng thật hiện đại so với truyền thống.

Nếu để ý kĩ, ta nhận thấy ở phần đầu truyện có một đoạn người kể chuyện vốn là “tôi” – ông giáo — bị thay thể bằng chính tác giả. Ông không nhờ vai người kể chuyện nữa, mà nhập thăng vào đời sống của lão Hạc (đoạn miêu tả lão ngồi uống rượu cưng nựng cậu Vàng). Đây là một “pha” tác giả soi quét cái nhìn trần thuật của mình vào đời sống hoạt động và tâm tưởng của lão Hạc. Nhờ thế, củng cộng lực với các đường nét từ cái nhìn của người kể chuyện, thao tác này đã góp phần tạo dựng nên chân dung lão Hạc phong phú, sắc nét và có chiều sâu hơn. Vậy là chao đảo đi qua bốn điểm nhìn tự sự — tác giả, ông giáo, vợ ông giáo và Binh Tư — nhân vật lão Hạc từ xa lạ trở nên gần gũi, thân mật, sau đó lại bị ghét bỏ, bị hiểu lầm rồi cuối cùng được hiểu đúng và thân thương hơn, đau xót hơn. Cái nhìn từ tấm lòng tác giả là mạch chủ đạo, chỉ phối và liên kết các điểm nhìn khác.

Từ việc miêu tả hoạt động giao tiếp của các nhân vật, tác giả đã gián tiếp đưa ra một tình thể lựa chọn của lão Hạc mà các dấu hiệu của nó đã được chuẩn bị ngay từ đầu. Đó là việc giải quyết cái sống và cái chết. Sống liệu có giữ được mảnh vườn cho con mà vẫn có cái để cho vào miệng hay không (còn bán mất mảnh vườn sẽ là một trọng tội không thể tha thứ được trong lương tâm của lão đối với người vợ đã khuất và đứa con đang ở xa); hay là chết thì sẽ giữ được mảnh vườn, lương tâm yên ổn, nhưng chết phải chết như thế nào, chuẩn bị cho cái chết ra sao?… Cuối cùng, lão lựa chọn cái chết, đầu tiên lão để cho cậu Vàng chết trước. Sau đó mới đến lão. Lão âm thầm, tỉ mẩn chuẩn bị, dọn dẹp cho mình một con đường sạch sẽ, chu tất để bước đến nhà mồ (lão nhờ ông giáo giữ vườn khỏi bị ai tranh chiếm, nhòm ngó; nhờ ông cầm ba mươi đồng để cậy bà con lo ma cho lão). Lão đã chọn một cái chết trong còn hơn sống khổ, sống nhục. Lão đã chết một cách cao ngạo và thảm khốc. Chỉ có bằng cách này, lão mới khỏi phạm vào mảnh đất thiêng dành cho con lão và mới có thể chấm dứt kiếp sống héo úa, lay lắt của mình. Tội nghiệp cho lão, chắc hẳn lão nung nấu ý định chết từ lâu rồi, từ cái ngày đầu sang nói chuyện bán cậu Vàng với ông giáo, rõ nhất là cái hôm lão sang gửi vườn và tiền. Chả thế mà câu chuyện của lão rề rà, vòng vo, nặng nhọc, nhức nhối một điều gì đó thật khó nói; tâm can lão bị đè nặng bởi ý định tự tử mà lão muốn giấu. Lão đã làm tất cả những gì có thể làm được trước khi đi đến cái chết, tuy lặng lẽ, âm thầm mà thật dữ dội, quyết liệt… Thương thay! Để bảo toàn nhân cách của mình, không có con đường nào khác là phải chủ động tìm đến cái chết. Không chỉ là một cái chết mà là hai: cậu Vàng – bạn tinh thần của lão – và chính lão. Mà chết để làm gì, nếu không phải là để cấy cái sống cho tiền đồ của đứa con chưa báo hiệu điều gì hứa hẹn! Đó là một lựa chọn tột cùng đau đớn của thân phận con người. Ý nghĩa câu chuyện chủ yếu được phát sáng từ điểm then chốt này.

Nói chung, truyện của Nam Cao không phải là loại truyện giản đơn trong cấu tứ, dựng truyện và triển khai mạch truyện; thậm chí không phải là dễ hiểu ngay được các tầng nghĩa nổi chìm trong đó (mặc dù chúng khoác một vẻ ngoài hết sức giản dị, thậm chí trần trụi – có lẽ nhờ đội quân ngôn ngữ lấm láp, quẫy đạp của ông). Thế nhưng truyện Lão Hạc thật tự nhiên, dung dị, hấp dẫn và mênh mông buồn. Tài nghệ và tấm lòng của nhà văn Nam Cao một lần nữa, ở đây, lại được kí thác hết mình.

 


 

  1. Chuẩn bị

Yêu cầu (trang 86 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

– Đọc trước văn bản Chiều sâu của truyện “Lão Hạc”, tìm hiểu thêm những bài viết về tác phẩm Lão Hạc.

– Liên hệ với những hiểu biết của em về truyện Lão Hạc đã học ở Bài 6 để hiểu thêm văn bản nghị luận này.

Trả lời:

– Lão Hạc là một truyện ngắn xuất sắc của Nam Cao viết về người nông dân ở xã hội phong kiến cũ, đăng báo lần đầu năm 1943.

– Tác phẩm được đánh giá là một trong những truyện ngắn tiêu biểu của dòng văn học hiện thực, nội dung truyện đã phần nào phản ánh được hiện trạng xã hội Việt Nam trong giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám.

  1. Đọc hiểu:

* Nội dung chính:

            Văn bản đề cập đến những cái hay cái đẹp được tác giả thể hiện trong tác phẩm Lão Hạc thông qua những chi tiết đắt giá và đặc sắc nghệ thuật được sử dụng.

* Trả lời câu hỏi giữa bài:

Câu 1 (trang 87 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Việc đặt ra những câu hỏi ở đây nhằm mục đích gì?

Trả lời:

– Nhằm mục đích dẫn dắt vấn đề tác giả muốn làm rõ trong bài viết.

Câu 2 (trang 87 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Việc tác giả điểm lại các cuộc trò chuyện trong tác phẩm Lão Hạc nhằm làm sáng tỏ cho vấn đề nào nêu ở phần (1)?

Trả lời:

– Việc tác giả điểm lại các cuộc trò chuyện trong tác phẩm Lão Hạc nhằm làm sáng tỏ cho vấn đề mà tác giả nghiệm ra ở tác phẩm “Một, ông đã đưa hoạt động… hệ lụy của chúng”

Câu 3 (trang 87 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Điều mà người viết phát hiện ra phía sau “cách thức trò chuyện” là những gì?

Trả lời:

– Điều mà người viết phát hiện ra sau “cách thức trò chuyện” là:

Các nhân vật cứ dần dần lộ ra mỗi lúc một rõ nét những suy tư nội tâm của mình: một bên là người già cả đầy âu lo, toan tính một cách tội nghiệp theo tinh thần khắc kỉ, một bên là người biết lắng nghe, lòng đầy cảm thương, chia sẻ, muốn an ủi, vỗ về…

Câu 4 (trang 88 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Từ những “điểm nhìn tự sự”, người viết khẳng định điều gì?

Trả lời:

– Khẳng định cái nhìn từ tấm lòng tác giả là mạch chủ đạo, chi phối và liên kết các điểm nhìn khác.

Câu 5 (trang 88 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Luận điểm được trình bày ở phần (3) là gì?

Trả lời:

– Luận điểm được trình bày ở phần (3) là: Từ việc miêu tả hoạt động giao tiếp của các nhân vật, tác giả đã gián tiếp đưa ra một tình thế lựa chọn của lão Hạc mà các dấu hiệu của nó đã được chuẩn bị ngay từ đầu.

Câu 6 (trang 89 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Có thể xem phần (4) là kết bài không? Vì sao?

Trả lời:

– Có thể xem phần 4 là kết bài vì nó đã tổng hợp lại nội dung bài viết.

* Trả lời câu hỏi cuối bài:

Câu 1 (trang 89 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Dựa vào nhan đề và bố cục của văn bản, hãy chỉ ra luận đề và những luận điểm được triển khai trong văn bản.

Trả lời:

– Luận đề: Giá trị sâu sắc về tư tưởng và nghệ thuật trong tác phẩm Lão Hạc.

– Luận điểm:

+ Câu chuyện giữa ông giáo và lão Hạc qua hai lần gặp gỡ đã trở thành đối tượng nhận thức và mô tả trực tiếp tính cách nhân vật;

+ Tác giả đã gián tiếp thể hiện một tình thế lựa chọn của lão Hạc: giữa cái sống và cái chết cùng những hệ luỵ của chúng.

Câu 2 (trang 89 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Đọc kĩ phần (2) của văn bản và trả lời các câu hỏi sau (có thể dùng lời văn, bảng biểu hay sơ đồ tư duy):

  1. Luận điểm của phần này có mối quan hệ như thế nào với luận đề?
  2. Xác định lí lẽ và bằng chứng được sử dụng để làm sáng tỏ luận điểm
  3. Nhận xét về cách trích dẫn và phân tích bằng chứng của người viết

Trả lời:

  1. Luận điểm gắn bó mật thiết với luận đề, giúp làm sáng tỏ luận đề của văn bản.

b.

Lí lẽBằng chứng
Cách thức trò chuyện đã ẩn tàng nhiều ý nghĩa sâu xa hơn là bản thân những lời trò chuyện.Nêu ra số lần ông giáo và lão Hạc trò chuyện. Ông giáo là người kể chuyện.
Giấu đến tận cùng số phận nhân vật, thỉnh thoảng hé mở vài cảnh huống gây sự hiểu lầm, rồi cuối cùng giải tỏa sự hiểu lầm ấy là một thành công đặc sắc của nghệ thuật tự sự Nam Cao ở truyện này.Phân tích cuộc trò chuyện giữa các nhân vật
Cái nhìn từ tấm lòng tác giả là mạch chủ đạo, chi phối và liên kết các điểm nhìn khác.Phân tích sự thay đổi mạch kể chuyện.
  1. Cách người viết sử dụng lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ các luận điểm chính trong văn bản rất thuyết phục, xác thực và được trình bày theo một trình tự hợp lí. Lí lẽ và bằng chứng được sử dụng ngay sau luận điểm chính mà nhờ đó vấn đề nghị luận được làm sáng rõ hơn.

Câu 3 (trang 89 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Luận điểm được trình bày trong phần (3) góp phần làm sáng tỏ luận đề như thế nào? Nhận xét về cách lập luận được sử dụng trong phần này.

Trả lời:

– Luận điểm ở phần (3) đã đi sâu phân tích hoạt động giao tiếp của các nhân vật, về tình thế lựa chọn của lão Hạc trong truyện (giữa cái sống và cái chết cùng những hệ luỵ của chúng). Vấn đề này giúp làm rõ hơn giá trị tư tưởng trong tác phẩm Lão Hạc.

Câu 4 (trang 89 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Phần (4) khái quát điều gì? Vấn đề nghị luận được khẳng định như thế nào?

Trả lời:

– Phần 4 khái quát lại nội dung toàn bài. Vấn đề nghị luận được khẳng định: truyện Nam Cao không phải là loại truyện giản đơn trong cấu tứ, dựng truyện và triển hai mạch truyện

Câu 5 (trang 89 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Văn nghị luận nghiêng về lí lẽ, bằng chứng nhưng cũng giàu tính biểu cảm. Hãy dẫn ra một đoạn văn trong văn bản thể hiện rõ tình cảm trân trọng, mến phục của người viết đối với tài năng nghệ thuật của Nam Cao.

Trả lời:

Đoạn văn trong văn bản thể hiện rõ tình cảm trân trọng, mến phục của người viết đối với tài năng nghệ thuật của Nam Cao:

“Nói chung, truyện của Nam Cao không phải là loại truyện giản đơn trong cấu tử, dựng truyện và triển khai mạch truyện; thậm chí không phải là dễ hiểu ngay được các tầng nghĩa nổi chìm trong đó (mặc dù chúng khoác một vẻ ngoài hết sức giản dị, thậm chí trần trụi – có lẽ nhờ đội quân ngôn ngữ lấm láp, quẫy đạp của ông). Thế nhưng truyện Lão Hạc thật tự nhiên, dung dị, hấp dẫn và mênh mông buồn. Tài nghệ và tấm lòng của nhà văn Nam Cao một lần nữa, ở đây, lại được kí thác hết mình.”

Câu 6 (trang 89 sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

Văn bản này giúp em hiểu sâu sắc hơn điều gì về truyện ngắn Lão Hạc?

Trả lời:

– Văn bản này giúp em hiểu sâu sắc hơn về nội dung, nghệ thuật và thông điệp mà tác giả Nam Cao muốn truyền tải qua Lão Hạc đồng thời thấy được tinh thần nhân vật, nhân đạo cao cả của tác phẩm Lão Hạc.

 

 

 

Soạn văn 8 Cánh diều Tập 2

 

 

 

Chiều sâu của truyện Lão Hạc – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều

Chiều sâu của truyện Lão Hạc – Ngữ Văn 8 – Cánh Diều